Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tâm lý học và y học, stress được hiểu là phản ứng của cơ thể trước các tác nhân kích thích không phù hợp dẫn đến sự mất cân bằng, gây ảnh hưởng đến các chức năng thể chất và tâm lý. Việc thiếu năng lực ứng phó với stress kéo dài có thể làm nảy sinh nhiều rối loạn thực tổn và các bệnh lý tâm thần nghiêm trọng. Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2017, có khoảng 15% dân số Việt Nam mắc các rối loạn liên quan đến stress. Khảo sát của Phòng Chính trị tư tưởng thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019 ghi nhận 31% học sinh gặp phải các vấn đề liên quan đến căng thẳng tâm lý. Đáng chú ý, số liệu của Trung tâm Phòng chống Khủng hoảng Tâm lý (PCP) chỉ ra rằng tại Việt Nam, tỷ lệ tự tử cao nhất nằm ở nhóm tuổi từ 15 đến 24, trong đó nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ các áp lực tinh thần. Báo cáo năm 2003 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng từng cảnh báo về sự gia tăng của các rối loạn tâm lý học đường trong thế kỷ XXI.

Học sinh lớp 12 là nhóm khách thể chịu nhiều áp lực đặc thù do phải đối mặt với các kỳ thi mang tính bước ngoặt, định hướng nghề nghiệp và sự biến đổi mạnh mẽ về tâm sinh lý lứa tuổi thanh thiếu niên. Mặc dù các tìm kiếm chung về stress học đường có tần suất xuất hiện cao, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về đối tượng học sinh lớp 12 tại Việt Nam vẫn còn phân tán và chiếm tỷ lệ khiêm tốn. Khảo sát sơ bộ cho thấy khi tra cứu từ khóa "Thực trạng stress ở học sinh trung học phổ thông" ghi nhận hơn 1.000.000 kết quả, trong khi từ khóa "Thực trạng stress ở học sinh lớp 12" chỉ có chưa đầy 465 kết quả, với chưa đầy một phần ba trong số đó là các báo cáo khoa học chính thức. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn trên, tác giả Nguyễn Thị Anh Thư đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Tâm lý học tại Trường Đại học Lao động - Xã hội (Cơ sở II) với đề tài: "Thực trạng stress ở học sinh lớp 12 tại trường THPT Nguyễn Hữu Cầu huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là khảo sát thực trạng stress ở học sinh lớp 12 tại trường THPT Nguyễn Hữu Cầu, chỉ ra các mức độ, biểu hiện, nguyên nhân và biện pháp ứng phó thực tế của học sinh, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp phù hợp. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về stress nói chung và stress ở học sinh lớp 12 nói riêng.
  2. Nghiên cứu thực trạng mức độ và biểu hiện stress ở học sinh lớp 12.
  3. Nghiên cứu xác định nguyên nhân gây ra stress ở học sinh lớp 12.
  4. Xác định các chiến lược ứng phó với stress ở học sinh lớp 12 và đề xuất những giải pháp phù hợp.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiện tượng stress ở học sinh lớp 12. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên các phương diện:

  • Về nội dung: Tập trung vào mức độ, các biểu hiện (thể chất, cảm xúc, nhận thức, hành vi), nguyên nhân và các chiến lược ứng phó với stress.
  • Về khách thể: 100 học sinh đang theo học khối 12 được lựa chọn ngẫu nhiên tại trường THPT Nguyễn Hữu Cầu.
  • Về địa bàn nghiên cứu: Trường THPT Nguyễn Hữu Cầu, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Về thời gian thực hiện: Từ ngày 18/01/2022 đến ngày 03/04/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc kế thừa các quan điểm kinh điển và hiện đại về stress:

  • Walter Cannon (1914) với thuật ngữ stress trong sinh lý học và phản ứng "chống hoặc chạy" (fight or flight).
  • Hans Selye (1974) với các quan điểm về cơ sở sinh hóa thần kinh (sự tiết các hormone catecholamine, epinephrine, cortisol thông qua trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận HPA), Hội chứng Thích nghi Tổng quát (General Adaptation Syndrome - GAS) gồm 3 giai đoạn: Báo động (alarm), Kháng cự (resistance), Kiệt quệ (exhaustion), cùng sự phân định giữa stress tích cực (eustress) và stress tiêu cực (distress).
  • Quan điểm tương tác giữa cá nhân và môi trường thông qua nhận thức của Lazarus và Folkman (1984), cùng lý thuyết Tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1943, 1954).
  • Về mặt định nghĩa thao tác, đề tài sử dụng quan điểm chủ đạo của nhóm tác giả Lê Chí An, Nguyễn Thụy Diễm Hương, Mai Xuân Huấn, Bùi Thị Xuân Mai, Nguyễn Hữu Tân (2006): Stress là cách ứng phó của cơ thể đối với bất cứ loại đòi hỏi nào; phân chia các biểu hiện stress thành 4 nhóm (thể chất, nhận thức, cảm xúc, hành vi); đồng thời phân loại nguyên nhân và chiến lược ứng phó theo 5 nhóm yếu tố: thời gian, mối tương quan, tình huống, suy diễn và nghị lực cá nhân.

Về công cụ đo lường, nghiên cứu sử dụng tiểu thang đo Stress thuộc Bảng đo lường Trầm cảm, Lo âu, Stress (DASS-21) của Lovibond & Lovibond (1995), đã được chuẩn hóa tại Việt Nam. Điểm số stress được tính bằng tổng điểm của 7 items thành phần nhân hệ số 2, phân loại thành 5 mức độ:

Mức độ stress Điểm số DASS-21
Bình thường 0 – 14
Nhẹ 15 – 18
Vừa 19 – 25
Nặng 26 – 33
Rất nặng $\ge 34$

Để thu thập và phân tích dữ liệu thực nghiệm, tác giả kết hợp đồng bộ 7 phương pháp nghiên cứu:

  1. Phương pháp sưu tầm và phân tích tài liệu: Thu thập, xử lý các nguồn sách, giáo trình, công trình nghiên cứu và báo cáo khoa học để xây dựng cơ sở lý luận.
  2. Phương pháp quan sát: Ghi chép các biểu hiện căng thẳng, hành vi của học sinh trong các buổi sinh hoạt, giờ giải lao và các buổi hỗ trợ tâm lý.
  3. Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn ngắn vào giờ nghỉ và phỏng vấn sâu đối với học sinh có nhu cầu hỗ trợ tâm lý tại phòng tham vấn học đường.
  4. Phương pháp điều tra bảng hỏi: Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến dựa trên cơ sở lý luận, tiến hành khảo sát trên mẫu 100 học sinh lớp 12 được chọn ngẫu nhiên.
  5. Phương pháp trắc nghiệm: Sử dụng tiểu thang đo stress trong bảng hỏi DASS-21 để lượng hóa mức độ stress.
  6. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu bằng Google Sheets và công cụ Data Analysis trong Excel; sử dụng các kiểm định thống kê gồm kiểm định F (F-Test Two-Sample for Variances) và phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA Single Factor) ở mức ý nghĩa 0,05 để đối chiếu sự khác biệt giữa các nhóm biến số.
  7. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Lựa chọn 02 trường hợp học sinh lớp 12 có mức độ stress cao, tiếp cận thân chủ, đánh giá vấn đề, lập và triển khai kế hoạch trợ giúp, theo dõi kết quả can thiệp.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm dữ liệu sơ cấp từ 100 phiếu khảo sát hợp lệ thu được tại trường THPT Nguyễn Hữu Cầu trong quý I năm 2022 và dữ liệu thứ cấp từ các văn bản quản lý giáo dục, y tế và tài liệu tâm lý học lứa tuổi.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về stress và stress ở học sinh lớp 12

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu vấn đề stress ở học sinh phổ thông trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các đóng góp của các nhà nghiên cứu quốc tế như Corina Iurea và Cristina Georgiana Safta (2018), Brittany V. Hearon (2015), cùng các công trình nghiên cứu tại Việt Nam từ thập niên 1960 của Tô Như Khuê, công trình "Căng thẳng trong thời đại văn minh" của Phạm Ngọc Rao và Nguyễn Hữu Nghiêm (thập niên 1980), các ấn phẩm của Đặng Phương Kiệt và Nguyễn Khắc Viện (1998, 2004), và các hội thảo khoa học chuyên đề về sức khỏe tâm thần trẻ em.

Tiếp đó, chương này phân tích các đặc điểm tâm sinh lý và xã hội ở lứa tuổi học sinh lớp 12 (độ tuổi từ 14 đến 18). Về thể chất và sinh lý, đây là giai đoạn hoàn thiện dậy thì, não bộ đạt trọng lượng tối đa với 14 đến 16 tỷ tế bào thần kinh đạt mức myelin hóa cao độ; sự thay đổi mạnh mẽ của các hormone sinh dục và nội tiết tố (androgen, cortisol, adrenaline) dẫn đến những biến đổi thể chất, nhu cầu tìm hiểu giới tính và tính bất ổn cảm xúc. Về mặt tâm lý, tư duy trừu tượng và khả năng tự ý thức phát triển mạnh nhưng khả năng tự đánh giá chưa thực sự khách quan, dễ dẫn đến trạng thái tự ti hoặc kỳ vọng thái quá về ngoại hình và năng lực. Về mặt xã hội, học sinh có nhu cầu giao tiếp nhóm đồng trang lứa cao, tìm kiếm sự độc lập, nhưng cũng đối mặt với các nguy cơ xung đột, bạo lực học đường và áp lực thích nghi xã hội.

Chương 1 cũng làm rõ các hoạt động cơ bản của học sinh lớp 12:

  • Hoạt động học tập: Là hoạt động chủ đạo, mang tính phổ thông nhưng yêu cầu tư duy lý luận cao, gắn liền với áp lực thi cử tốt nghiệp và cạnh tranh vào đại học, việc học thêm chiếm phần lớn thời gian trong ngày.
  • Hoạt động vui chơi giải trí: Bị thu hẹp do quỹ thời gian hạn chế; mạng xã hội trở thành phương tiện giải trí phổ biến nhất (với số liệu ghi nhận 22 triệu học sinh, sinh viên Việt Nam sử dụng mạng xã hội tính đến năm 2019), mang lại rủi ro tiếp xúc với thông tin tiêu cực, kích động.
  • Các hoạt động khác: Hoạt động định hướng nghề nghiệp, phụ giúp gia đình, làm thêm tạo thu nhập và các mối quan hệ tình cảm lứa tuổi học trò.

Dựa trên khung lý thuyết của Lê Chí An và cộng sự, tác giả chi tiết hóa 4 nhóm biểu hiện stress (thể chất, nhận thức, cảm xúc, hành vi), 5 nhóm nguyên nhân gây stress (thời gian, mối tương quan, tình huống, suy diễn, nghị lực cá nhân) và 5 nhóm chiến lược ứng phó tương ứng làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn.


Chương 2: Thực trạng stress ở học sinh lớp 12 tại trường Trung học phổ thông Nguyễn Hữu Cầu, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh

Chương 2 trình bày các kết quả thực nghiệm thu được từ quá trình khảo sát tại địa bàn. Trường THPT Nguyễn Hữu Cầu có tiền thân là Trường Tiểu học Cộng đồng Trung Mỹ Tây (thành lập năm 1960), đổi tên thành Trường cấp III Nguyễn Hữu Cầu vào năm 1975 và chính thức mang tên Trường THPT Nguyễn Hữu Cầu từ năm 2001. Trường có diện tích 8.690 m², cơ sở vật chất gồm 6 dãy phòng học (A đến F), sân bóng, phòng gym, câu lạc bộ bóng chuyền. Đội ngũ gồm 100 cán bộ, giáo viên, nhân viên (85 giáo viên giảng dạy). Quy mô toàn trường tại thời điểm nghiên cứu là 1.615 học sinh chia thành 36 lớp (khối 12 có 495 học sinh, mỗi khối có 4 lớp chọn). Đáng chú ý, năm 2021, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, trường áp dụng phương thức xét tuyển học bạ vào lớp 10 thay vì thi tuyển, tạo ra sự chênh lệch về năng lực tiếp thu khi học sinh quay lại học trực tiếp; số liệu ghi nhận tại phòng tham vấn từ 18/01/2022 đến 04/04/2022 cho thấy cứ 10 học sinh đến tham vấn thì có 8 học sinh gặp áp lực do chưa thích nghi với khối lượng chương trình.

Mẫu khảo sát gồm 100 học sinh ngẫu nhiên thuộc 5 lớp khối 12 (A02: 24 học sinh; A03: 15 học sinh; A04: 31 học sinh; A05: 15 học sinh; A06: 15 học sinh). Đặc điểm mẫu khách thể được tác giả thống kê như sau:

Tiêu chí phân loại Phân nhóm Số lượng ($n$) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 32 32%
Nữ 68 68%
Học lực Xuất sắc 2 2%
Giỏi 71 71%
Khá 20 20%
Trung bình 7 7%
Kinh tế gia đình Rất tốt 1 1%
Tốt (ổn định) 78 78%
Không tốt (chưa ổn định) 21 21%
Tình trạng sức khỏe Rất tốt 7 7%
Tốt 78 78%
Không tốt 15 15%
Thời gian học/ngày Dưới 5 giờ 5 5%
Từ 5 đến 10 giờ 35 35%
Từ 10 đến 15 giờ 51 51%
Trên 15 giờ 9 9%

Về mức độ stress chung, kết quả khảo sát qua thang DASS-21 cho thấy:

  • Mức độ vừa chiếm tỷ lệ cao nhất: 33%.
  • Mức độ nhẹ chiếm: 26%.
  • Mức độ nặng đến rất nặng chiếm gần: 27%.

Khi thực hiện phân tích so sánh mức độ stress giữa các nhóm khách thể qua kiểm định F-Test và ANOVA Single Factor (Bảng 2.2), tác giả thu được các kết quả:

Nhóm biến số Phân nhóm so sánh Trung bình cộng (TBC) Kết quả kiểm định Kết luận thống kê
Giới tính Nam / Nữ Nam: 22,0
Nữ: 21,1
$P = 0,46 > 0,05$ Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ
Lớp học A02, A03, A04, A05, A06 A02: 24,1; A03: 22,5
A04: 21,0; A05: 18,3
A06: 19,9
$F = 1,96$; $F_{\text{crit}} = 2,47$
$P = 0,10 > 0,05$
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các lớp
Học lực Trung bình, Khá, Giỏi, Xuất sắc TB: 22,6; Khá: 19,5
Giỏi: 21,9; XS: 14,0
$F = 0,73$; $F_{\text{crit}} = 2,70$
$P = 0,54 > 0,05$
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo học lực
Kinh tế Không tốt, Tốt, Rất tốt K.Tốt: 20,1; Tốt: 21,5
Rất tốt: 22,0
$F = 0,08$; $F_{\text{crit}} = 3,09$
$P = 0,92 > 0,05$
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo kinh tế
Sức khỏe Không tốt, Tốt, Rất tốt K.Tốt: 26,4; Tốt: 20,3
Rất tốt: 23,4
$F = 5,54$; $F_{\text{crit}} = 3,10$
$P = 0,01 < 0,05$
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo tình trạng sức khỏe
Thời gian học Dưới 5h, 5-10h, 10-15h, Trên 15h <5h: 24,4; 5-10h: 22,2
10-15h: 20,6; >15h: 21,3
$F = 2,70$; $F_{\text{crit}} = 2,69$
$P = 0,04 < 0,05$
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo thời gian học/ngày

Về các biểu hiện stress ở học sinh, tác giả lượng hóa theo thang điểm trung bình (ĐTB) từ 0 đến 3 (quy ước: 0–0,5: hiếm khi; 0,51–1,5: thỉnh thoảng; 1,51–2,5: thường xuyên; 2,51–3: luôn luôn). Số liệu khảo sát về mặt thể chất và nhận thức được thể hiện trong các bảng sau:

Biểu hiện thể chất (Bảng 2.3): Điểm trung bình chung của nhóm biểu hiện thể chất là 1,20 (S.D = 0,81). Trong đó, các dấu hiệu có điểm trung bình cao nhất là:

  1. Liên tục buồn ngủ, ngủ nhiều: ĐTB = 1,93 (S.D = 0,89).
  2. Hay quên ngay cả những thông tin cơ bản: ĐTB = 1,57 (S.D = 0,99).
  3. Lười vận động, không muốn làm bất cứ hoạt động gì: ĐTB = 1,39 (S.D = 0,98).
  4. Cảm thấy đau mỏi cơ, đau đầu chóng mặt: ĐTB = 1,35 (S.D = 0,99).
  5. Mất ngủ, ngủ ít, khó ngủ: ĐTB = 1,25 (S.D = 1,04).
  6. Bị rụng tóc, cảm thấy tóc rụng nhiều hơn: ĐTB = 1,23 (S.D = 0,12).
  7. Thỉnh thoảng tim đập nhanh, thở gấp, run tay, nói lắp, ra nhiều mồ hôi: ĐTB = 1,03 (S.D = 0,98).
  8. Kỳ kinh nguyệt không đều, ra nhiều hoặc rất ít: ĐTB = 0,91 (S.D = 0,13).
  9. Tăng cân, ăn nhiều, luôn thèm ăn: ĐTB = 0,86 (S.D = 0,93).
  10. Chán ăn, bỏ ăn, ăn không ngon, sụt cân: ĐTB = 0,85 (S.D = 1,01).
  11. Đau bụng, đau dạ dày, thỉnh thoảng tiêu chảy: ĐTB = 0,81 (S.D = 0,85).

Biểu hiện nhận thức (Bảng 2.4):

  1. Khó khăn trong việc ra quyết định: ĐTB = 1,57 (S.D = 0,87).
  2. Khó khăn trong việc từ chối yêu cầu của người khác: ĐTB = 1,37 (S.D = 0,92).
  3. Mọi điều xảy ra trong cuộc sống của bạn đều không như ý muốn: ĐTB = 1,33 (S.D = 0,84).
  4. Khó tiếp thu thông tin, khó khăn trong việc suy nghĩ logic: ĐTB = 1,10 (S.D = 0,85).
  5. Nhận thấy bản thân vô dụng, thất bại, không có giá trị: ĐTB = 1,06 (S.D = 0,93).
  6. Đa nghi, đôi lúc nghĩ bản thân bị bệnh nhưng khi khám lại không phát hiện bệnh lý: ĐTB = 0,87 (S.D = 0,97).
  7. Nhận thấy bản thân lập dị, khác biệt, chẳng ai hiểu bạn: ĐTB = 0,84 (S.D = 0,86).
  8. Luôn nhận thấy bản thân có lỗi: ĐTB = 0,82 (S.D = 0,91).
  9. Cảm thấy bị xa lánh, không ai quan tâm bạn: ĐTB = 0,73 (S.D = 0,86).
  10. Cảm thấy bản thân là con rối: ĐTB = 0,55 (S.D = 0,74).

Ngoài ra, chương 2 còn tiến hành nghiên cứu trường hợp điển hình trên 02 học sinh khối 12 có mức độ stress nặng đang nhận hỗ trợ tại phòng tham vấn học đường nhằm kiểm chứng các biểu hiện lâm sàng và ứng dụng thử nghiệm các phương pháp trợ giúp tâm lý.


Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại những kết quả thực nghiệm rõ ràng về tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh khối 12 tại trường THPT Nguyễn Hữu Cầu:

  • Đã lượng hóa được tỷ lệ stress: Nhóm học sinh có mức độ stress vừa chiếm đa số (33%), tiếp đến là mức độ nhẹ (26%), trong khi nhóm học sinh chịu mức độ stress nặng và rất nặng chiếm tỷ lệ đáng báo động là gần 27%.
  • Đã xác định được mối liên hệ thống kê giữa các biến nhân khẩu và mức độ stress: Mức độ stress không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo giới tính ($P = 0,46$), lớp học ($P = 0,10$), học lực ($P = 0,54$) và điều kiện kinh tế gia đình ($P = 0,92$). Tuy nhiên, stress có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê rõ rệt theo tình trạng sức khỏe ($P = 0,01$) và thời gian học tập trong ngày ($P = 0,04$). Trong đó, học sinh có sức khỏe kém chịu mức stress cao nhất (TBC = 26,4 – ngưỡng nặng); học sinh học dưới 5 giờ/ngày có điểm stress cao (TBC = 24,4) do tình trạng mất phương hướng và áp lực đuổi kịp chương trình học.
  • Đã chỉ ra được các biểu hiện lâm sàng nổi trội: Về thể chất, biểu hiện thường xuyên nhất là "Liên tục buồn ngủ, ngủ nhiều" (ĐTB = 1,93) và "Hay quên ngay cả những thông tin cơ bản" (ĐTB = 1,57); về nhận thức, biểu hiện chi phối là "Khó khăn trong việc ra quyết định" (ĐTB = 1,57) và "Khó khăn trong việc từ chối yêu cầu của người khác" (ĐTB = 1,37).

Về mặt đóng góp khoa học, tác giả tự nêu các điểm mới của đề tài:

  • Khóa luận là công trình nghiên cứu trực tiếp, chuyên biệt vào đối tượng học sinh lớp 12 tại một cơ sở giáo dục cụ thể thuộc huyện ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh (huyện Hóc Môn), giải quyết khoảng trống dữ liệu khi phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát chung khối THPT hoặc tập trung vào sinh viên đại học.
  • Khóa luận gắn liền với bối cảnh giáo dục đặc thù sau đại dịch Covid-19 (chuyển đổi từ học trực tuyến sang trực tiếp, hệ quả của phương thức xét tuyển học bạ năm 2021).
  • Kết hợp nghiên cứu định lượng trên diện rộng với phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình tại phòng tham vấn, tạo cơ sở thực tiễn vững chắc cho các đề xuất can thiệp.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất hệ thống kiến nghị đồng bộ:

  • Kiến nghị với học sinh lớp 12: Tự rèn luyện kỹ năng quản lý thời gian theo ma trận ưu tiên; thiết lập thời gian biểu chi tiết; chủ động mở rộng mạng lưới hỗ trợ xã hội tích cực; thực hiện quy trình "Tự khám phá – Tự chấp nhận – Tự thay đổi" theo tâm lý học nhân văn; duy trì chế độ sinh hoạt lành mạnh (tập thể dục, thở sâu, dinh dưỡng hợp lý, ngủ đủ giấc).
  • Kiến nghị với nhà trường: Tăng cường hiệu quả hoạt động của phòng tham vấn tâm lý học đường; tổ chức các chương trình hỗ trợ thích nghi cho học sinh gặp khó khăn về học lực; duy trì và nhân rộng các biện pháp quản lý linh hoạt của ban giám hiệu (như giảm áp lực đồng phục, bố trí thời gian giải lao hợp lý, đẩy mạnh hoạt động thể thao).
  • Kiến nghị với phụ huynh: Điều chỉnh kỳ vọng thành tích học tập phù hợp với năng lực thực tế của con em; tránh kiểm soát thái quá gây căng thẳng; chủ động lắng nghe, đối thoại cởi mở về các vấn đề giới tính, tình cảm và định hướng nghề nghiệp tương lai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và các điều kiện thực hiện nghiên cứu, khóa luận có một số hạn chế nhất định:

  • Quy mô mẫu khảo sát còn hạn chế: Nghiên cứu thực hiện trên 100 học sinh, chỉ chiếm khoảng 20,2% trên tổng số 495 học sinh khối 12 của trường THPT Nguyễn Hữu Cầu.
  • Phạm vi địa bàn mang tính cục bộ: Mẫu nghiên cứu mới chỉ phân bổ trên 5 trong tổng số 11 lớp khối 12 tại một trường THPT duy nhất trên địa bàn huyện Hóc Môn, chưa bao quát được toàn diện học sinh ở các loại hình trường THPT khác nhau (như trường chuyên, trường nội thành, trung tâm giáo dục thường xuyên) để tạo đối trọng so sánh.
  • Mẫu khảo sát có sự chênh lệch lớn về tỷ lệ giới tính (nữ chiếm 68%, nam chiếm 32%), có thể làm giảm tính khái quát đại diện cho toàn bộ quần thể học sinh.
  • Thời gian khảo sát tương đối ngắn (từ 18/01/2022 đến 03/04/2022) và rơi vào thời điểm học sinh vừa trở lại trường sau đợt giãn cách xã hội kéo dài do dịch Covid-19, do đó mức độ stress có thể chịu tác động nhất thời từ các yếu tố bối cảnh dịch tễ.

Từ các hạn chế trên, hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định:

  • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát ra nhiều trường THPT với các đặc điểm kinh tế - xã hội và vị trí địa lý khác nhau nhằm tăng cường độ tin cậy và khả năng suy rộng của kết quả.
  • Thực hiện các nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal study) theo dõi mức độ stress của học sinh lớp 12 qua từng giai đoạn then chốt của năm học: giai đoạn học kỳ 1, giai đoạn ôn thi tốt nghiệp THPT và giai đoạn đăng ký nguyện vọng xét tuyển đại học.
  • Đi sâu đánh giá thực nghiệm hiệu quả của các mô hình can thiệp tâm lý học đường cụ thể đối với việc giảm thiểu các chỉ số stress ở học sinh cuối cấp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Anh Thư mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Tâm lý học, Công tác xã hội, Giáo dục học: Có thể sử dụng tài liệu như một tài liệu tham khảo cụ thể về cách thức thiết kế đề cương nghiên cứu thực trạng tâm lý, kỹ thuật chuyển giao và vận dụng tiểu thang đo DASS-21, cùng kỹ thuật xử lý dữ liệu kiểm định giả thuyết thống kê (F-test, ANOVA) bằng công cụ văn phòng thông dụng.
  • Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên chủ nhiệm và chuyên viên tham vấn học đường tại các trường THPT: Cung cấp các số liệu thực tế về tần suất xuất hiện của các biểu hiện stress thể chất (buồn ngủ, hay quên, đau đầu) và nhận thức (khó ra quyết định, tự ti), từ đó hỗ trợ việc nhận diện sớm các học sinh có nguy cơ rơi vào rối loạn lo âu, trầm cảm để có biện pháp can thiệp kịp thời.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản là hệ thống bảng phân tích đối chiếu tương quan giữa mức độ stress với các biến số sức khỏe, thời gian học tập, cùng các mô tả lâm sàng về tác động qua lại giữa sinh hóa thần kinh và các phản ứng cơ thể của học sinh.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Hữu Cầu mắc stress từ mức độ nặng đến rất nặng là bao nhiêu?
Theo kết quả trắc nghiệm DASS-21 trên 100 học sinh khối 12 tại trường, tỷ lệ học sinh gặp stress ở mức độ nặng và rất nặng gộp lại chiếm gần 27%. Nhóm học sinh có mức độ stress vừa chiếm 33% và mức độ nhẹ chiếm 26%.

2. Những yếu tố nhân khẩu học nào có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với mức độ stress của học sinh trong nghiên cứu này?
Kết quả phân tích phương sai ANOVA cho thấy chỉ có 2 yếu tố có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ stress: tình trạng sức khỏe ($F = 5,54; P = 0,01 < 0,05$) và thời gian học tập mỗi ngày ($F = 2,70; P = 0,04 < 0,05$). Các yếu tố giới tính ($P = 0,46$), lớp học ($P = 0,10$), học lực ($P = 0,54$) và điều kiện kinh tế gia đình ($P = 0,92$) đều không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

3. Biểu hiện stress về mặt thể chất và nhận thức nào xuất hiện phổ biến nhất ở học sinh lớp 12?
Về mặt thể chất, biểu hiện có điểm trung bình cao nhất là "Liên tục buồn ngủ, ngủ nhiều" (ĐTB = 1,93; S.D = 0,89) và "Hay quên ngay cả những thông tin cơ bản" (ĐTB = 1,57; S.D = 0,99). Về mặt nhận thức, biểu hiện cao nhất là "Khó khăn trong việc ra quyết định" (ĐTB = 1,57; S.D = 0,87) và "Khó khăn trong việc từ chối yêu cầu của người khác" (ĐTB = 1,37; S.D = 0,92).

4. Thang đo tâm lý nào đã được tác giả sử dụng để đo lường stress và cách tính điểm như thế nào?
Tác giả sử dụng tiểu thang đo Stress thuộc Bảng đo lường Trầm cảm, Lo âu, Stress (DASS-21) của Lovibond & Lovibond (1995) bản chuẩn hóa tại Việt Nam. Điểm stress được xác định bằng cách cộng điểm của 7 items thành phần rồi nhân với 2, tương ứng với 5 phân mức: Bình thường (0–14 điểm), Nhẹ (15–18 điểm), Vừa (19–25 điểm), Nặng (26–33 điểm) và Rất nặng (từ 34 điểm trở lên).

5. Bối cảnh đặc biệt nào trong khâu tuyển sinh năm 2021 tại trường THPT Nguyễn Hữu Cầu được tác giả xác định là yếu tố gia tăng áp lực học tập cho học sinh?
Năm 2021, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, trường THPT Nguyễn Hữu Cầu đã áp dụng phương thức xét học bạ để tuyển sinh vào lớp 10 thay vì tổ chức thi tuyển theo điểm đầu vào như thông lệ. Điều này tạo ra sự chênh lệch giữa năng lực học tập thực tế và điểm số học bạ, khiến nhiều học sinh gặp khó khăn, quá tải khi phải thích nghi với chương trình học trực tiếp có tốc độ nhanh và khối lượng kiến thức nặng của trường.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Anh Thư đã phản ánh bức tranh thực trạng về tình trạng stress ở học sinh lớp 12 tại trường THPT Nguyễn Hữu Cầu trong giai đoạn đầu năm 2022 thông qua phương pháp khảo sát định lượng bằng thang đo chuẩn hóa DASS-21 kết hợp nghiên cứu trường hợp lâm sàng. Kết quả phân tích thống kê chỉ ra rằng tỷ lệ học sinh chịu mức độ stress từ vừa đến rất nặng chiếm tỷ lệ đáng kể, trong đó tình trạng sức khỏe thể chất và thời lượng học tập mỗi ngày là hai nhân tố có tác động chi phối rõ nét nhất đến chỉ số căng thẳng của học sinh. Công trình cung cấp hệ thống cơ sở lý luận chặt chẽ và các dẫn chứng thực nghiệm xác thực, làm căn cứ khoa học cho việc triển khai các biện pháp can thiệp đồng bộ từ phía bản thân học sinh, ban giám hiệu nhà trường và gia đình nhằm hỗ trợ sức khỏe tâm thần học đường.