CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ STRESS VÀ STRESS Ở HỌC SINH LỚP 12 1.1 Lịch sử nghiên cứu 1.1 Những công trình nghiên cứu stress ở học sinh lớp 12 trên thế giới Các vấn đề tâm lý và đặc biệt là stress đang là vấn đề phổ biến toàn cầu. Theo báo cáo của WHO cho thấy các vấn đề về stress đang gia tăng nhanh chóng với tỷ lệ trung bình từ 5-10%. Theo thống kê của một số nước tỷ lệ dân số gặp phải các vấn đề liên quan đến stress là 15-20% (trong đó có Việt Nam theo thống kê của Bộ Y Tế năm 2017 là 15%). Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần cũng nhấn mạnh thêm độ tuổi gặp phải stress phổ biến là từ 16 đến 25.
Điều này càng nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của stress đến với nhóm học sinh THPT nói chung và khối lớp 12 nói riêng. Chủ đề này ngay lập tức được thế giới quan tâm và ghi nhận. Nhiều công trình nghiên cứu đã ra đời nhằm chỉ ra sự ảnh hưởng, mức độ, biểu hiện, nguyên nhân hay cách ứng phó trước stress của học sinh. Ban đầu thuật ngữ stress được sử dụng trong Vật lý học để ám chỉ sức nén mà một loại vật liệu nào đó phải chịu đựng.
Đến năm 1914, Walter Cannon đã sử dụng thuật ngữ này trong Sinh lí học, để chỉ các stress cảm xúc. Trong y học người ta cũng bắt đầu có những quan tâm về việc sự phản ứng giống nhau của cơ thể trước những tác nhân gây stress khác nhau. Một trong những nghiên cứu đầu tiên nhắc đến tác động của stress đến quá trình học tập ở học sinh phổ thông là Hans Selye (1974) [2], ông cũng là người đưa ra được những quan điểm về cơ sở sinh hóa thần kinh của stress. Theo đó ta có thể thấy để phản ứng với căng thẳng cơ thể tiết ra một loạt các hormone như catecholamine, epinephrine, cortisol,… Để cân bằng lượng hormone tiết ra trục HPA giữ vai trò chính do đó nó cũng được xem là đầu não trong quá trình phản ứng lại với căng thẳng của cơ thể.
Lazarus và Folkman (1984) cũng đã đề cập đến một số nguyên nhân môi trường và cá nhân gây ra stress ở học sinh [3]. Tác giả nhấn mạnh sự không bắt kịp hay không thích nghi được với những chuyển biến từ bên ngoài và bên trong cơ thể khiến cho stress được 6 hình thành. Các nghiên cứu thực hiện trong những năm gần đây cho thấy tần suất tiếp xúc với stress ngày một rộng và mức độ của nó cũng ngày một tăng và khó giải quyết hơn. Minh chứng tiêu biểu nhất cho khẳng định trên là nhóm đối tượng học sinh sinh viên.
Khi nền giáo dục thay đổi, xã hội ngày một phát triển làm nảy sinh nhiều vấn đề khiến nhóm đối tượng trở nên khó thích nghi, gặp khó khăn và trở nên mất cân bằng gây ảnh hưởng đến các vấn đề sức khỏe và đời sống. Đây là những tác động của căng thẳng đến học sinh được Corina Iurea và Cristina Georgiana Safta chỉ ra trong báo cáo “Violence Prevention and Safety Promotion in Higher Education Settings” (2018) [1]. Bên cạnh các nghiên cứu về nguyên nhân gây ra stress hay tác động của stress đến học sinh phổ thông thì các vấn đề về sự ứng phó cũng được nhiều nhà nghiên cứu bận tâm. Trong khóa luận của mình Brittany V.
Hearon (2015) đã chỉ ra những hành vi ứng phó không phù hợp của học sinh với stress. Bài nghiên cứu cho thấy việc không biết cách quản lý thời gian hay bỏ học, sử dụng chất kích thích khi gặp phải stress khiến vấn đề không được giải quyết mà càng kéo dài và trầm trọng hơn. Thế nhưng việc giải quyết được các vấn đề tâm lý nói chung và stress nói riêng không chỉ là hoạt động của một người hay trong một thời gian ngắn. Hầu hết những học sinh đều chưa được trang bị đầy đủ và học cách vận dụng phù hợp các phương pháp ứng phó với stress.
Các nguồn lực hỗ trợ tâm lý cho nhóm đối tượng này cũng hạn chế và khó tiếp cận. Behavioral Health Barometer: United States (2013) đã chỉ ra có đến hơn 60% dân số gặp các vấn đề liên quan đến stress không được tiếp cận với sự hỗ trợ cần thiết. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc stress càng ngày càng phổ biến. Nó cũng đặt ra một dấu chấm hỏi cho việc phổ biến các phương pháp ứng phó stress.
Hầu hết các nghiên cứu trên đều tập trung phần lớn vào stress do học tập hoặc ảnh hưởng của stress đến học tập mà chưa cho thấy được các mối liên hệ khác. Ngoài ra các bài báo cáo trên đều chưa thực sự đi sâu nghiên cứu về nhóm đối tượng là học sinh lớp 12 mà chỉ cho thấy thực trạng chung của nhóm học sinh THPT hoặc chỉ đề cập đến thông qua đề tài chính là stress ở sinh viên. Tuy nhiên rất nhiều thông tin trong đó đã cho thấy được bức tranh tổng quát về vấn đề stress ở học sinh trên thế giới. Thông qua đó ta xây dựng được hướng nghiên cứu đi từ mức độ đến biểu hiện, nguyên nhân và ứng phó.
Cùng 7 với đó cho ta thấy được mối quan hệ đối lập giữ việc biết cách ứng phó và ứng phó hiệu quả. Từ đó thúc đẩy nghiên cứu và xây dựng các giải pháp ứng phó với stress hiệu quả.2 Những công trình nghiên cứu stress ở học sinh lớp 12 tại Việt Nam Thuật ngữ stress được giữ nguyên bản và không dịch sang tiếng Việt bởi không có từ nào tương thích để có thể giải nghĩa nó. Từ những năm 60 của thế kỷ XX các vấn đề liên quan đến stress đã được quan tâm tại Việt Nam. Các khái niệm ban đầu được đưa ra hầu hết đều dưới góc nhìn sinh lý và y học.
Tiên phong khi nói về stress có thể kể đến Tô Như Khuê, ông cho rằng stress là phản ứng không đặc hiệu của cơ thể xuất hiện ở hầu hết mọi người. Sang đến những năm 80 hai bác sĩ là Phạm Ngọc Rao và Nguyễn Hữu Nghiêm đã biên soạn và xuất bản một chuyên khảo về “Căng Thẳng Trong Thời Đại Văn Minh”. Qua đó cho ta thấy được sự phổ biến của stress trên khắp thế giới và dần tăng mức độ nghiêm trọng về sau này. Chuyên khảo còn chỉ ra được những ảnh hưởng của stress đến cá nhân và xã hội đồng thời vạch ra những nguyên nhân về môi trường, xã hội đã ảnh hưởng đến sự hình thành của stress.
Tiếp nối những ngòi bút tiên phong trên cũng có rất nhiều đề tài nghiên cứu về stress nói chung và stress ở học sinh lớp 12 nói riêng. Có nhiều đóng góp nhất có lẽ là 2 tác giả Đặng Phương Kiệt và Nguyễn Khắc Viện qua các tác phẩm như “Căng thẳng và đời sống” (1998), “Chung sống với căng thẳng” (2004), “Căng thẳng và sức khỏe” (2004). Trong đó tác giả Nguyễn Khắc Viện còn chỉ ra các căn bệnh có thể dẫn đến tử vong có nguyên nhân đến từ các căng thẳng tâm lý. Tạp chí Tâm lý học hàng năm đều có những bài báo về thực trạng stress của nhóm học sinh cuối cấp.
Trong đó đã nhấn mạnh hệ quả nghiêm trọng nhất của stress là dẫn đến trầm cảm hay thậm chí tự sát (2009). Ngoài ra còn có rất nhiều buổi hội thảo khoa học bàn về stress ở học sinh phổ thông cuối cấp như: hội nghị khoa học “Những rối loạn có liên quan đến căng thẳng ở trẻ em và thanh thiếu niên” (1997) do Viện Sức khỏe tâm thần Trung Ương tổ chức; hay hội thảo Việt – Pháp về Tâm lý học “Trẻ em, Văn hóa, Giáo dục” (2001). Đó là các báo cáo về tình hình chung ngoài ra còn có những báo cáo, nghiên cứu chi tiết về stress ở nhóm đối tượng học sinh lớp 12 tại từng khu vực hay từng điểm trường cụ thể. Điều này đã cho thấy sự tác động nghiêm trọng mà stress gây ra.
Đồng 8 thời cho thấy những phương pháp ứng phó chung với stress chưa thực thực tiếp cận và giúp đỡ được hết các cá nhân khác nhau. Mỗi khu vực địa điểm khác nhau có những sự khác nhau về kinh tế văn hóa chính trị xã hội giáo dục và cả môi trường sống. Do đó các nghiên cứu chi tiết ở từng địa điểm, khu vực cụ thể là cần thiết để giúp xây dựng được các biện pháp ứng phó phù hợp.2 Những lý luận chung về stress ở học sinh lớp 12 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Một số khái niệm về stress Có rất nhiều các quan điểm, khái niệm và hệ thống lý thuyết liên quan đến stress được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu khoa học. Chúng tôi đã tổng hợp được một số quan điểm được đánh giá cao và tính vận dụng tốt để trình bày trong đề tài này.
Quan điểm đầu tiên cho rằng stress là phản ứng của cơ thể để đáp lại các kích thích. Những cái tên tiêu biểu đại diện cho quan điểm này có Cannon hay Hans Selye. Trong mô tả về phản ứng “chống hoặc chạy” (fight or flight) của cơ thể để đáp lại các tác nhân kích thích tiêu cực ông cũng chỉ ra stress là một phản ứng đã được cài đặt sẵn của cơ thể để ứng phó với các tác nhân tiêu cực. Trong khi đó Hans cho rằng stress là một phản ứng sinh học của cơ thể.
Stress xảy ra nhưng một tín hiệu báo động cho cơ thể về một trạng thái mất cân bằng đòi hỏi cơ thể phải phản ứng để thích nghi. Các thông tin này được Hans mô tả trong Hội chứng Thích nghi Tổng quát (GAS). Trong mô tả này ông cũng chỉ ra quá trình phản ứng lại kích thích có hại trải qua 3 giai đoạn đầu tiên là Báo Động (alarm) tiếp theo là Kháng Cự (resistance) và cuối cùng là Kiệt Quệ (exhaustion). Ông mô tả giai đoạn đầu tiên hàng loạt các hormone sẽ được tiết ra để gửi báo động đỏ đến toàn cơ thể như epinephrine, AVP, CRH,… Tiếp sau đó hoạt động của hệ thần kinh tự chủ, giao cảm và phó giao cảm thay đổi khiến cơ thể biển hiện các vấn đề về nhịp tim, hô hấp, và rối loạn tiêu hóa.
Đến cuối cùng tất cả quá trình này sẽ kết thúc tại hồi ức chế [2]. Trong đời sống hằng ngày là một phản ứng sinh học stress cũng đem lại nhiều lợi ích (Eustress) nhưng đôi khi là tác hại đối với cơ thể (Distress). Phục thuộc vào mức độ, tần suất, thời gian và ảnh hưởng mà stress mang đến để có thể xác định stress đó là tích 9 cực hay tiêu cực. Stress tích cực cũng giống như quá trình biến than chì thành kim cương vậy tất cả đều phải trải qua áp lực.