Đặt vấn đề Tính cấp thiết cần nghiên cứu của đề tài Căng thẳng (stress) là một trong những vấn đề sức khỏe tâm thần. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), 10-20% trẻ em và vị thành niên (VTN) đang mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Tỷ lệ này khác biệt ở các quốc gia khác nhau, do những khác biệt về kinh tế, xã hội nhưng cũng một phần do sử dụng các công cụ đo đạc khác nhau và cách thức lấy mẫu khác nhau. Tình trạng stress ở VTN và thanh niên đã nhận được sự quan tâm nhất định từ cộng đồng vì tỷ lệ mắc đáng báo động.
Tuy nhiên, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng này còn chưa nhất quán do mỗi quốc gia, mỗi địa phương có những đặc điểm môi trường, văn hóa, kinh tế, xã hội khác nhau [4]. Ở Việt Nam, vấn đề stress học đường đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bởi những hệ quả do stress gây ra đối với học sinh như bị trầm cảm, có hành vi gây hấn hoặc thậm chí tự sát. Một số nghiên cứu điển hình như nghiên cứu của bệnh viện tâm thần Mai Hương năm 2005 cho thấy tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trong các quận nội thành là 19,45% [2]. Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá về sức khỏe tâm thần của vị thành niên, thanh niên Việt Nam nói chung và học sinh THPT nói riêng.
Mặc dù kết quả không hoàn toàn nhất quán, nhưng các nghiên cứu cho thấy một xu hướng rõ ràng tỷ lệ vị thành niên, thanh niên Việt Nam gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần là đáng kể. Những nghiên cứu này cho thấy sự quan tâm chú ý của những nhà chuyên môn đến các vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ em, tuy nhiên thường không có mẫu số đại diện khiến nó chưa trở thành những thông số tin cậy để xác định và xây dựng các chiến lược can thiệp và phòng ngừa. Với thực trạng tỷ lệ học sinh mắc stress hiện nay, đã có nhiều trường THPT có mô hình tham vấn tâm lý, nhưng mức độ tiếp cận với hoạt động này của học sinh còn khá 6 khiêm tốn. Với các lý do trên, chúng tôi nhận thấy việc thực hiện nghiên cứu này là phù hợp với tính cấp thiết của vấn đề.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mô tả thực trạng stress ở học sinh tại trường THPT Phan Đình Phùng, Hà Nội năm 2014 2. Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress ở học sinh tại trường THPT Phan Đình Phùng, Hà Nội năm 2014 II. Tổng quan đề tài Một số khái niệm chính Căng thằng tâm lý, stress: Thuật ngữ “căng thẳng tâm lý” hay còn gọi là “stress” là một khái niệm bao hàm nhiều khía cạnh phức tạp liên quan đến những phản ứng, biểu hiện đáp ứng của cá nhân đối với những yếu tố tác nhân, tình huống khi con người đối mặt trong cuộc sống.
Rối loạn lo âu: Rối loạn lo âu được hiểu là lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng với sự đe dọa được cảm thấy, ảnh hưởng đến hoạt động của chủ thể, có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động có vẻ như quá mức hay vô lý. Một số thang đo stress: Thang đo tự đánh giá về stress của Cohen: Thang đo này gồm 10 câu, nhằm đo lường mức độ căng thẳng mà chủ thể nhận thấy cuộc sống của họ trong 1 tháng qua là không thể dự đoán trước, không kiểm soát được và quá tải, mỗi nhận định như vậy có 5 mức lựa chọn: không bao giờ, gần như không bao giờ, đôi lúc, thường xuyên, rất thường xuyên. Các chỉ số định tính này được chuyển sang định lượng từ 0-4 cho các câu 1,2,3,6,9,10; riêng các câu 4,5,7,8 thì tính điểm ngược lại từ 4-0, nghĩa là 4 điểm = không bao giờ; 3 điểm = gần như không bao giờ … Điểm số được tính từ 0 đến 40, điểm càng cao cho thấy mức độ stress càng nặng. Dưới 24 điểm: stress cấp tính, có thể kiểm soát được; từ 24-30 điểm: bắt đầu quá tải vì stress, không đủ năng lực kiểm soát các trở 7 ngại gặp phải, cần được hỗ trợ để vượt qua; trên 30 điểm: bị stress nặng, cần được khám và điều trị [21].
Tuy nhiên, hiện nay thang đo tự đánh giá về stress của Cohen chưa được chuẩn hóa và sử dụng nhiều tại Việt Nam. Ngoài ra DASS – 42 được dùng cho mọi đối tượng, lứa tuổi, có các điểm cắt phù hợp với yêu cầu của nghiên cứu. Với các lý do trên nhóm quyết định chọn bộ công cụ là DASS - 42 để đánh giá tình trạng và mức độ stress ở học sinh THPT. Cách tính điểm: Bảng 1: Điểm được tính bằng cách tính tổng điểm Mức độ Mức điểm Bình thường 0-14 Nhẹ 15-18 Vừa 19-25 Nặng 26-33 Rất nặng ≥ 34 Thực trạng stress 2.
Trên thế giới: Stress là một trong những vấn đề sức khỏe tâm thần. Theo báo cáo của WHO, 10-20% trẻ em và vị thành niên (VTN) đang mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần, tỷ lệ này khác biệt ở các quốc gia khác nhau, do những khác biệt về kinh tế, xã hội nhưng cũng một phần do sử dụng các công cụ đo đạc khác nhau và cách thức lẫy mẫu khác nhau. Bảng 1 báo cáo các nghiên cứu dịch tễ về sức khỏe tâm thần trẻ VTN ở một số quốc gia trên thế giới gần đây theo hướng tiếp cận chẩn đoán. Nhìn chung, các nghiên cứu về tỷ lệ các vấn đề sức khỏe tâm thần không tính đến các rối loạn phát triển như thiểu năng trí tuệ, tự kỉ và các thiểu năng học tập cụ thể [4].
8 Bảng 2: Tỷ lệ chẩn đoán các vấn đề SKTT ở thời điểm nghiên cứu cắt ngang ở một số nước khác nhau[4] Nƣớc Tác giả Tuổi Công cụ chẩn đoán Tỷ lệ (%) Goa, Ấn Độ Pillai & cs, 12-16 DSM-IV 1,8 2008 Israel Farbstein & 14-17 DSM-IV 11,7 cs, 2000 Puerto Rico Canino & cs, 4- 7 DSM-IV, DISC-IV 19,8 2004 Zurich Conton Steinhausen 6-17 15 DSM-III-R, 22,5 Swetzerland & cs, 1998 DISC-2.3 Trung Quốc Guan & 5-17 DSM-IV, ISICMD, 16,22 cs,2010 bảng hỏi phỏng vấn do tác giả tự thiết kế Như vậy có thể thấy rằng, vấn đề stress ở vị thành niên và thanh niên đã nhận được sự quan tâm nhất định từ cộng đồng vì tỷ lệ mắc đáng báo động. Tuy nhiên nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề còn chưa nhất quán do mỗi quốc gia, mỗi địa phương có những đặc điểm môi trường, văn hóa, kinh tế, xã hội khác nhau. Tại Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề stress học đường đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bởi những hệ quả do stress gây ra đối với học sinh như bị trầm cảm, có hành vi gây hấn hoặc thậm chí tự sát. Một số nghiên cứu điển hình như nghiên cứu của bệnh viện tâm thần Mai Hương năm 2005 cho thấy tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trong các quận nội thành là 19,45% [2].
Tuy nhiên một nghiên cứu (2007) trên hai tỉnh miền Trung lại cho kết quả tỷ lệ trẻ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần là 9%. Nghiên cứu của Amstadter A.B và cộng sự tại Việt Nam (2011) cho kết quả 9,1% thanh thiếu niên được 9 cho là mắc phải các vấn đề về tâm thần [9]. Một nghiên cứu được thực hiện tại các tỉnh miền Bắc trên trẻ VTN (2012) sử dụng thang đo Youth Self Report (YSR) cho kết quả đáng báo động khi so sánh kết quả nghiên cứu với các quốc gia khác, thấy rằng Việt Nam xếp cao nhất trong số các quốc gia được nghiên cứu, nghiên cứu kết luận được 18% trẻ trong nghiên cứu gặp ít nhất một trong tám triệu chứng về rối nhiễu tâm lý được đề cập trong thang đo YSR: Lo âu/trầm cảm, Thu mình/trầm cảm, Bệnh tâm thể, Vấn đề xã hội, Vấn đề suy nghĩ, Vấn đề chú ý, Hành vi hung tính, Phá bỏ quy tắc [5]. Ngoài những nghiên cứu lớn, cũng có một số nghiên cứu quy mô nhỏ hơn đã được tiến hành.
Nghiên cứu cắt ngang trên 150 học sinh THPT B Yên Mô – Ninh Bình (2007) của Phạm Thanh Bình sử dụng thang đo mức độ lo âu của Soly – Bensabel (60-90 điểm) cho kết quả số lượng học sinh trong mức điểm từ 70-80 điểm chiếm số lượng nhiều nhất, tiếp đến số lượng học sinh ở mức 80-90 điểm, điều này có nghĩa có một số lượng lớn học sinh được điều tra đang ở mức độ stress cao [1]. Nghiên cứu của Hồ Hữu Tính và Nguyễn Doãn Thành (2009) ở THPT Phan Bội Châu, Phan Thiết, Bình Thuận trên học sinh lớp 12 cho kết quả 38% học sinh có biểu hiện stress [8]. Hoàng Cẩm Tú và Đặng Hoàng Minh (2010) nghiên cứu trên học sinh ở 2 trường THPT Nguyễn Trãi (Hà Nội) và Vân Tảo (Hà Tây) cho thấy các trường hợp mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần chiếm 22,55% [3]. Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá về sức khỏe tâm thần của vị thành niên, thanh niên Việt Nam nói chung và học sinh THPT nói riêng.
Mặc dù kết quả không hoàn toàn nhất quán, nhưng các nghiên cứu cho thấy một xu hướng rõ ràng tỷ lệ vị thành niên, thanh niên Việt Nam gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần là đáng kể. Những nghiên cứu này cho thấy sự quan tâm chú ý của những nhà chuyên môn đến các vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ em, tuy nhiên thường không có mẫu số đại diện khiến nó chưa trở thành những thông số tin cậy để xác định và xây dựng các chiến lược can thiệp và phòng ngừa. Với thực trạng tỷ lệ học sinh mắc stress đáng báo động hiện nay, đã có nhiều trường THPT có 10 mô hình tham vấn tâm lý, nhưng mức độ tiếp cận với hoạt động này của học sinh còn khá khiêm tốn. Các yếu tố liên quan 2.
Trên thế giới Nghiên cứu tự đánh giá nguyên nhân stress ở cuối cấp 3 (2004) của Kouzma NM, Kennedy GA chỉ ra rằng nguyên nhân chính dẫn đến stress bao gồm các kì kiểm tra, điểm số, lo lắng cho tương lai, lựa chọn nghề nghiệp, ôn thi, khối lượng kiến thức, kì vọng của gia đình và bản thân [13]. Nghiên cứu của Shilpa Taragar về căng thẳng ở học sinh cấp 3 (2009) tại Ấn Độ cho rằng không có mối liên quan giữa một số thông tin cá nhân của đối tượng (tuổi, số lượng anh chị em, kích cỡ gia đình, nghề nghiệp của cha, nghề nghiệp của mẹ.