MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Rau là loại thực phẩm không thể thiếu được trong đời sống hằng ngày. Cùng với thức ăn động vật, rau cung cấp những dinh dưỡng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người. Tục ngữ có câu : “Cơm không rau như đau không thuốc”. Rau cung cấp cho cơ thể những chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin, các axit hữu cơ, chất khoáng.
Theo tính toán của nhiều nhà dinh dưỡng học, muốn cơ thể hoạt động bình thường cần cung cấp 2300-2500 kcal mỗi ngày, trong đó phải có 250-300 gam rau (tương đương với 7,5kg/ tháng hay 90-108kg/năm – Trần Khắc Thi) [5]. Như vậy tổng nhu cầu rau của nước ta sẽ là 8.720 nghìn tấn, tổng sản lượng rau các loại năm 2014 đạt 15,4 triệu tấn. Chương trình thực tập nghề tại Nhật Bản là một chương trình có sự hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên với Trung tâm Đào Tạo và Phát Triển Quốc Tế về nhiều lĩnh vực giáo dục đào tạo, chuyển giao khoa học công nghệ. Trong đó lĩnh vực về hợp tác phát triển nông nghiệp đang được chú trọng quan tâm vì đặc thù của Việt Nam vẫn đang là một nước nông nghiệp dựa vào nông nghiệp là chính.
Nhật Bản là một nước dù chịu nhiều thiên tai điều kiệm thời tiết khắc nghiệt nhưng nền nông nghiệp phát triển một cách thần kỳ và là một trong những nước có nên nông nghiệp công nghệ cao tiên tiến, hiện đại hàng đầu thế giới. Đối với chương trình thực tập lần này không chỉ học về kiến thức nông nghiệp mà còn được trải nghiệm văn hóa, cuộc sống thường nhật của người bản địa. Thông qua những trải nghiệm thực tế để khám phá thêm những kiến thức mới biến nó thành kinh nghiệm cho bản thân. 2 Nhắc đến Nhật bản chúng ta sẽ nghĩ đến một đất nước phát triển về kinh tế khoa học và kỹ thuật rất phát triển mà ít nghĩ đến nghành nông nghiệp Nhật Bản, nông nghiệp của Nhật Bản phát triển theo hướng khoa học bền vững ứng dụng nhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vì vậy có sản lượng rất cao, chất lượng rất tốt và đứng hàng đầu thế giới.
Những người làm nông nghiệp của Nhật rất giàu có và sung túc. Nông nghiệp của Nhật Bản chỉ có vai trò thứ yếu trong nền kinh tế Nhật Bản, tỉ trọng của nông nghiệp trong GDP chỉ chiếm khoảng 1%. Diện tích đất nông nghiệp ít, chỉ chiếm chưa đầy 14% lãnh thổ. Chỉ có khoảng 3% dân số của Nhật Bản làm nông nghiệp nhưng cung cấp đầy đủ thực phẩm chất lượng cao cho hơn 127 triệu dân của quốc gia này, ngoài ra còn dư thừa để xuất khẩu sang các nước như là Hồng Kông, Đài Loan, Singapore.
Nằm sâu trong núi Shinshu, làng kawakami thuộc tỉnh Nagano, phía Tây Thủ đô Tokyo được người dân đất nước mặt trời mọc mệnh danh là “ngôi làng thần kỳ”. Từng là vùng đất đai cằn cối nằm sâu trong vách núi hẻo lánh với dân số chưa tới 4.000 người, là một trong những ngôi làng nghèo nhất nước Nhật vào những năm đầu thập niên 60 – 70 của thế kỷ 20. Nơi đây có khí hậu khắc nghiệt, tuyết phủ suốt mùa đông lạnh và mùa xuân, nhiệt độ có lúc xuống dưới âm 20 độ C, thời gian có thể sản xuất nông nghiệp chỉ khoảng 6 tháng trong năm. Hiện tại Kawakami là ngôi làng giàu có nhất.
Thu nhập bình quân hàng năm của các hộ dân ở đây là 25 triệu yên chỉ nhờ vào việc trồng rau xà lách, là một trong những nơi có người dân khoẻ mạnh và tuổi thọ cao nhất của Nhật Bản. Hầu hết những người trẻ tuổi tại Kawakami không đổ xô tới những thành phố lớn mà đa phần họ ở lại quê hương và phát triển tương lai ở ngôi làng “đại gia” này. Cho tới giờ, làng Kawakami đã trờ thành tiềm năng cho nông nghiệp Nhật Bản. Vậy điều gì đã tạo nên sự “thần kỳ” của Kawakami? Xuất phát từ 3 thực tiễn đó, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại trang trại 26, Kawahake làng Kawakami-mura, Minamisaku-gun, tỉnh Nagano, Nhật Bản” nhằm nghiên cứu và phân tích quá trình sản xuất nông nghiệp tại làng Kawakami, đánh giá thuận lợi, khó khăn của người dân trong sản xuất rau an toàn, từ đó đưa ra giải pháp, khuyến nghị cho các bên liên quan tới vấn đề.
Mục tiêu nghiên cứu, yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu nhằm làm rõ quá trình tổ chức sản xuất rau an toàn của người dân trong làng Kawakami, từ đó giúp tôi đưa ra những bài học kinh nghiệm để có thể áp dụng vào thực tế sản xuất rau an toàn tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được thực trạng sản xuất, tiêu thụ RAT tại làng Kawakami, huyện Minamisaku, tỉnh Nagano, Nhật Bản. - Đánh giá được thuận lợi, khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ RAT tại làng.
- Rút ra bài học kinh nghiệm trong sản xuất rau an toàn tại Việt Nam. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Bổ sung thêm kiến thức về rau an toàn. - Có cái nhìn tổng thể về thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của người dân trên địa bàn làng.
- Nâng cao nhận thức, hiểu biết về rau an toàn và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sản xuất, tiêu thụ rau an toàn. - Đề tài cũng được coi như là tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các cơ quan trong ngành và sinh viên các khoá tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Đề tài là cơ sở để có những định hướng, giải pháp phát triển sản xuất rau an toàn và áp dụng tại một số địa phương tại nước ta có điều kiện tương tự. Yêu cầu Yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ: - Hiểu được như thế nào là sản xuất rau công nghệ cao và an toàn.
- Giao tiếp cơ bản với người nông dân - Tìm hiểu hoạt động sản xuất nông nghiệp thường ngày tại làng. - Mô tả những công việc mà tác giả đã tham gia trong thời gian TTTN. - Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ rau tại làng. - Bài học kinh nghiệm và giải pháp.
Yêu cầu về thái độ và ý thức trách nhiệm: - Hoàn thành tốt công việc được giao. - Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy định của UBND. Yêu cầu về kỷ luật: - Chấp hành phân công của khoa, quy chế thực tập của trường và các quy định của nơi thực tập. - Đảm bảo kỷ luật lao động, có trách nhiệm trong công việc.
- Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của người hướng dẫn tại nơi thực tập. - Luôn trung thực trong lời nói và hành động. Yêu cầu về tác phong, ứng xử: - Luôn giữ thái độ khiêm nhường, cầu thị. Thực tập ngoài trường không chỉ là để học tập chuyên môn mà còn là dịp tốt để tập làm việc trong tập thể, đặc biệt trong lĩnh vực đối nhân xử thế.
- Tạo mối quan hệ thân thiện với mọi người. - Phong cách, trang phục luôn phù hợp, lịch sự. Yêu cầu về kết quả đạt được: - Tạo mối quan hệ tốt với mọi người tại nơi thực tập. 5 - Thực hiện tốt công việc được giao với tinh thần trách nhiệm cao góp phần giữ vững chất lượng đào tạo và uy tín của trường.
- Đạt được các mục tiêu do trường đề ra và tích lũy được kinh nghiệm. - Không được tùy tiện sử dụng các trang thiết bị ở nơi thực tập. - Không sử dụng điện thoại ở nơi thực tập cho việc riêng. - Không tự ý sao chép dữ liệu, chụp hình khi chưa được phép.
Yêu cầu khác: Ghi nhật ký thực tập đầy đủ để có tư liệu viết báo cáo. 6 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái niệm về rau an toàn và vai trò của sản xuất tiêu thụ rau an toàn 2. Khái niệm rau an toàn Rau an toàn (RAT) là rau được sản xuất với quy trình kỹ thuật đảm bảo an toàn, sản phẩm đến người tiêu dùng không gây độc hại.
Theo các chuyên gia, RAT là rau mà ngay từ khi gieo trồng không bị bón phân đạm, hoặc bón rất ít đạm để tránh ô nhiễm muối Nitrat, thay vào đó phải bón phân vô cơ như phân chuồng, phân bắc ủ hoai. Theo tổ chức y tế thế giới WHO và tổ chức lương thực và nông nghiệp của liên hợp quốc theo FAO thì rau an toàn phải đảm bảo các yếu tố sau: - Rau đảm bảo phẩm cấp chất lượng không bị hư hại, dập nát, héo và không ủ bằng hoá chất độc hại. - Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hàm lượng Nitrat và kim loại nặng dưới mức cho phép. - Rau không bị bệnh không có sinh vật gây hại cho con người và gia súc.
- Tiêu chuẩn rau an toàn của thế giới. - Theo các nhà nghiên cứu, hàm lượng các yếu tố gây ô nhiễm trên các sản phẩm rau như hàm lượng Nitrat kim loại nặng hoá chất bảo vệ thực vật, vi sinh vật. có thể gây hại tới sức khoẻ người sử dụng tuỳ thuộc vào mức độ ô nhiễm, do đó sản phẩm rau được coi là an toàn khi đáp ứng được các thông số kỹ thuật cho phép của cơ quan giám định chất lượng và ở mỗi quốc gia đều xây dựng các chỉ tiêu phù hợp. Theo Bộ NN & PTNT (Quyết định số 67/1998)[1]: Những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa quả có chất lượng 7 đúng như đặt tính giống của nó, hàm lượng các hoá chất độc và mức ô nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là “rau an toàn”.
Các yêu cầu chất lượng của rau an toàn Chỉ tiêu về nội chất: + Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. + Hàm lượng Nitrat (NO3). + Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu: Cu, Pb, Hg, Cd, As,. + Mức độ ô nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (E.) và kí sinh trùng đường ruột (trứng giun đũa Ascaris).
Tất cả các chỉ tiêu trong sản phẩm của từng loại rau phải được dưới mức cho phép theo tiêu chuẩn của Tổ chức Quốc tế FAO/WHO hoặc của một số nước tiên tiến: Nga, Mỹ, Nhật Bản. Chỉ tiêu về hình thái: Sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng yêu cầu của từng loại rau (đúng độ già kỹ thuật hay thương phẩm); không dập nát, hư thối, không lẫn tạp chất, sâu bệnh và có bao gói thích hợp.