Luận văn thực trạng năng lực thực hành nghề nghiệp của điều dưỡng viên bệnh viện đã đào tạo tại trường thyt quảng ninh giai đoạn 2001 2005

Luận văn phân tích thực trạng năng lực thực hành nghề nghiệp của điều dưỡng viên đào tạo tại Trường THYT Quảng Ninh giai đoạn 2001-2005.

Trường đại học

Trường Trung học Y tế Quảng Ninh

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo nghiên cứu

2005

92
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực Trạng Năng Lực Thực Hành Nghề Điều Dưỡng Viên

Năng lực thực hành nghề điều dưỡng viên tại bệnh viện đào tạo từ trường THYT Quảng Ninh giai đoạn 2001-2005 là một vấn đề quan trọng. Đây là giai đoạn đầu tiên trong việc đào tạo điều dưỡng viên tại Quảng Ninh. Trong giai đoạn này, các điều dưỡng viên được đào tạo về các kỹ năng thực hành cơ bản, bao gồm thăm khám bệnh, chăm sóc bệnh nhân, và quản lý thuốc.

1.1. Giới Thiệu Về Chương Trình Đào Tạo

Chương trình đào tạo điều dưỡng viên tại trường THYT Quảng Ninh được thiết kế để cung cấp cho sinh viên các kỹ năng và kiến thức cần thiết để trở thành một điều dưỡng viên chuyên nghiệp. Chương trình bao gồm cả lý thuyết và thực hành, giúp sinh viên có thể áp dụng kiến thức vào thực tế.

1.2. Vấn Đề Liên Quan Đến Năng Lực Thực Hành

Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề liên quan đến năng lực thực hành của điều dưỡng viên sau khi tốt nghiệp. Một số điều dưỡng viên gặp khó khăn trong việc áp dụng kiến thức vào thực tế, đặc biệt là trong các tình huống thực hành phức tạp.

II. Vấn Đề Liên Quan Đến Năng Lực Thực Hành Nghề Điều Dưỡng Viên

Vấn đề liên quan đến năng lực thực hành nghề điều dưỡng viên là một vấn đề quan trọng cần được giải quyết. Các điều dưỡng viên cần được đào tạo để có thể áp dụng kiến thức vào thực tế một cách hiệu quả.

2.1. Thiếu Kỹ Năng Thực Hành

Một số điều dưỡng viên gặp khó khăn trong việc áp dụng kiến thức vào thực tế do thiếu kỹ năng thực hành. Điều này có thể dẫn đến việc điều dưỡng viên không thể thực hiện công việc của mình một cách hiệu quả.

2.2. Cần Cải Thiện Chương Trình Đào Tạo

Để giải quyết vấn đề này, cần phải cải thiện chương trình đào tạo điều dưỡng viên tại trường THYT Quảng Ninh. Chương trình cần được thiết kế để cung cấp cho sinh viên các kỹ năng và kiến thức cần thiết để trở thành một điều dưỡng viên chuyên nghiệp.

III. Giải Pháp Cải Thiện Năng Lực Thực Hành Nghề Điều Dưỡng Viên

Để cải thiện năng lực thực hành nghề điều dưỡng viên, cần phải có các giải pháp cụ thể. Một số giải pháp bao gồm cải thiện chương trình đào tạo, tăng cường thực hành, và cung cấp hỗ trợ cho điều dưỡng viên sau khi tốt nghiệp.

3.1. Cải Thiện Chương Trình Đào Tạo

Cải thiện chương trình đào tạo điều dưỡng viên là một giải pháp quan trọng. Chương trình cần được thiết kế để cung cấp cho sinh viên các kỹ năng và kiến thức cần thiết để trở thành một điều dưỡng viên chuyên nghiệp.

3.2. Tăng Cường Thực Hành

Tăng cường thực hành là một giải pháp khác. Điều dưỡng viên cần được cung cấp cơ hội thực hành để có thể áp dụng kiến thức vào thực tế một cách hiệu quả.

IV. Kết Luận Về Năng Lực Thực Hành Nghề Điều Dưỡng Viên

Tóm lại, năng lực thực hành nghề điều dưỡng viên tại bệnh viện đào tạo từ trường THYT Quảng Ninh giai đoạn 2001-2005 là một vấn đề quan trọng. Cần phải có các giải pháp cụ thể để cải thiện năng lực thực hành của điều dưỡng viên.

4.1. Kết Quả Của Chương Trình Đào Tạo

Kết quả của chương trình đào tạo điều dưỡng viên tại trường THYT Quảng Ninh cho thấy rằng các điều dưỡng viên đã được đào tạo để có thể thực hiện công việc của mình một cách hiệu quả.

4.2. Hướng Tiếp Cận Trong Tương Lai

Trong tương lai, cần phải tiếp tục cải thiện chương trình đào tạo điều dưỡng viên để cung cấp cho sinh viên các kỹ năng và kiến thức cần thiết để trở thành một điều dưỡng viên chuyên nghiệp.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TONG QUAN TAI LIEU Sức khoẻ của công nhân lái xe đa số phải chịu sự chỉ phối của môi trường lao động (vi khí hậu, ồn, bụi, rung.), và các tính chất đặc thù của công việc. Đã có một số công trình nghiên cứu về điều kiện lao động của công nhân lái xe ở các ngành nghề và các tác hại xấu ảnh hưởng tới sức khoẻ của đối tượng này mà đặc biệt là bệnh đau thất lưng (ĐTL) có tính chất nghề nghiệp. Lực lượng lái xe trong ngành Giao thông Vận tải (GTVT) chiếm một tỷ lệ tương đối lớn, gồm rất nhiều chủng loại xe: xe vận tải hành khách, xe ủi, xe tải, xe xúc, xe gạt.; mỗi loại xe có một chức năng, đặc điểm riêng biệt nhưng đù lái xe loại nào cũng bị tác động bởi tiếng ồn, rung xóc, tư thế lao động bất lợi.Đặc biệt yếu tố rung toàn thân (rung tần số thấp) cùng với tư thế lao động bất lợi (gần như bị “cố định” vào ghế lái) nên sự hoạt động của chân tay bị hạn chế trong một không gian nhất định trong suốt thời gian làm việc. Có nhiều bằng chứng cho thấy nguy cơ ĐTL ở các công nhân lái xe cao hơn hẳn so với các nhóm công nhân khác.

Chính vì vậy nghiên cứu tình hình thực tế và tìm ra giải pháp để bảo vệ sức khoẻ lâu dài cho công nhân lái xe nói chung cũng là mục tiêu của nhiều nghiên cứu. Điều kiên lao động của công nhân lái xe. Môi trường lao động của công nhân lái xe. Nghiên cứu của tác giả Ngô Đức Hương, 1975 [16] về vi khí hậu buồng lái của một số loại xe ô tô vận tải cho thấy: Nhiệt độ không khí ở ngang đầu người lái ở ô tô có trọng tải từ 5- 20 tấn khi chạy không có sự khác biệt đáng kể so với nhiệt độ ngoài trời.

Khi xe chạy từ 2-4 giờ thì sự khác biệt nhiệt độ giữa đầu và chân người lái là 5°C và khi xe tang ga lên đốc thì sự khác biệt đó lên tới 9°C. Về bụi các tác giả thấy hàm lượng bụi không vượt quá giới hạn tối đa cho phép (GHTĐCP) khi xe chạy trên đường nhựa nhưng khi xe chạy trên đường đất đá, đường công trình thì hàm lượng bụi tãng nhiều, vượt quá GHTĐCP gấp nhiều lần. Theo tác giả Phạm Đắc Thuỷ và cộng sự [22] trong công trình nghiên cứu khoa học mã số 34B- 03 cho thấy tốc độ gió ở xe ô tô vận tải khi chạy là 1,2 + 0,4m/s. Tac giả cho rằng nguyên nhân làm giảm sức khoẻ ở người lái xe là do điều kiện lao động xấu, vị trí làm việc không phù hợp với sinh lý và nhân trắc người Việt Nam.

Năm 1992, theo nghiên cứu của tác giả Phạm Hải Yến và cộng sự [25] thì tốc độ gió ở xe Ô tô trên 10 tấn là 0,8 + 0,5m/s, ở xe lu đắp đường, xe ủi, xe xúc gầu 4mỶ tốc độ gió từ 0,5 - 1,5m/s. Về tiếng ồn, nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Bính [7] 1992, tác giả Pham Dac Thuy [22] 1985 đều cho thấy tiếng ồn trên ca bin ô tô vận tải nằm trong khoảng 90- 98 dBA. Theo tác giả Nông Văn Đồng [I2], cường độ tiếng ồn ở xe tải trên 20 tấn là 93-103 đBA, đưới 20 tấn là 88 -I01 dBA. Kết quả điều tra cho thấy 77,08% công nhãn lái xe cảm thấy tiếng ôn gây khó chịu trong suốt thời gian làm việc (7-10 giờ/ngày) [23].

[35], mức độ tiếng ồn trong khoang 85-88 dBA đã có hại đến sức nghe, thậm chí ở mức 75 đBA người ta cũng gặp những trường hợp giảm sức nghe.12 Các tác hại nghề nghiệp ảnh hưởng tới sức khoẻ công nhân lái xe[26], 28], [31]. Rung xóc là một yếu tố gây mệt mỏi, khó chịu và ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến sức khoẻ công nhân lái xe, 88-90.5% công nhân lái xe thi công và xe ô tô trên 10 tấn rất khó chịu với yếu tố này [23], [52]. Năm 1972, theo tài liệu khảo sát về rung xóc của Viện Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, các xe chạy bằng dầu đều có độ rung chuyển cao vượt quá GHTĐCP. Các tác giả của Y tế Đường sắt từ năm 1975 khảo sát trên đầu máy diesel và đầu máy hơi nước đều thấy rung tần số thấp vượt quá GHTĐCP cả về biên độ và tần số [22], [25].

Nghiên cứu của các nhà Y học lao động [2], [24]. [26] cho thấy nếu toàn thân dao động với tần số 1Hz, các cơ quan nội tạng không xê dịch tương đối với người, cả cơ thể cùng dao động như một khối thống nhất. Theo cảm giác chủ quan, những dao động đó giống như hiện tượng lắc, tuy có làm cho người khó chịu nhưng không gây bệnh rung. Các công trình nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm đều cho thấy rung toàn thân theo phương thẳng đứng gây ra rất nhiều phản ứng trong cơ thể.

Trong nhiều trường hợp với sự gia tăng của rung và thời gian tác động, các phản ứng đó được xem như các rối loạn chức năng [I], [24], [31]. Có hai tác hại nghề nghiệp chủ yếu do rung toàn thân gây ra được nhiều tác giả quan tâm là các tổn thương vùng thắt lưng và các bệnh về đường tiêu hoá (loét đạ đày- tá tràng) [13], [31]. Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Khang và cộng sự [L7] đã khẳng định rằng ảnh hưởng của rung toàn thân thường được biểu hiện rõ rệt nhất qua trạng thái của quá trình hoạt động của hệ thần kinh, ảnh hưởng tới sự hưng phấn và ức chế. Trường hợp nặng hơn là chứng rối loạn hoạt động của hệ thần kinh trung ương, rối loạn tiền đình gây chóng mặt, nhức đầu dai dẳng, buồn nôn, tình trạng suy nhược mất ngủ, nhãn cầu bị co giật.

Bên cạnh đó còn gây rối loạn chức năng của hệ thần kinh thực vật làm cho các bệnh mạn tính của các cơ quan nội tạng trầm trọng hơn. Bolotnova T et al [29} cho rằng rung toàn thân được coi như là một yếu tố nguy cơ của bệnh dạ dày ở người lái xe tải. Coermann R [34] cho biết ở phổ rung tần số 7 Hz đã gây nên các di lệnh sa dạ dày, ruột cùng các tạng khác ở ổ bụng và đáy chậu. Kết quả chụp X quang và khám lâm sàng cho 322 thợ lái máy kéo bị tác động của rung xóc cho thấy 80% trường hợp bị sa dạ dày.

Theo nghiên cứu của tác giả Lê Phương Bắc [4] kết quả khám sức khoẻ cho các công nhân lái xe thấy tỉ lệ đối tượng có hội chứng dạ dày- hàng tá tràng là 3,4%. Theo nghiên cứu của tác giả Phan Đức Nhuận [18], tỉ lệ viêm loét dạ day- t trang ở công nhân lái xe ô tô vận tải là 8,7%; còn theo tác giả Phạm Đắc Thuỷ tỉ lệ này là 8,5% [23].Meyer nghiên cứu và thấy ở những công nhân lái xe có trọng tải lớn ở các công trường xây dựng (các xe này gây ra những rung động rất mạnh) những rối loạn hệ thần kinh trung ương và hệ thân kinh thực vật, biểu hiện sự mệt mỏi nghiêm trọng sau mỗi ca làm việc, mất ngủ thường xuyên hay buồn nôn và bị bí tiểu vào buổi sáng. Khi tiến hành chụp X quang cho thấp: 30% trường hợp có dấu hiệu có thất toàn bộ ống tiêu hoá hoặc nhiều khi khu trú tại môn vị; 25% công nhân đã mắc bệnh dạ dày nghiêm trọng [ L7]. Ngoài những bệnh kể trên, rung toàn thân còn gây những biến đổi cục bộ trong cơ thể, ví dụ như gây biến dạng xương cục bộ.

Nghiêm trọng nhất của tác hại nghề nghiệp do rung toàn thân là gây chứng tổn thương vùng thất lưng mà đã có nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước đề cập đến vấn để này [12], [15], [18], [20], [30], [32], [40], [45]. Thêm vào đó là vị trí làm việc không phù hợp với kích thước và cơ thể người Việt Nam [22], tư thế lao động bắt buộc góp phần tăng nguy cơ ĐT ở công nhân lái xe. Nghiên cứu này xin được đi sâu hơn về vấn đề này.2 Đặc điểm giải phẩu vùng cột sống that lưng [1], [3], [5], [19], [31] Vùng thất lưng được giới hạn trên bởi bờ dưới xương sườn 12, hai bên là hai khối cơ thẳng cột sống và phía dưới là bờ trên xương cánh chậu. Đoạn cột sống thất lưng (CSTL) có 5 cột sống, 6 đĩa đệm trong đó có hai đĩa đệm chuyển đoạn (đĩa đệm ngực- thất lưng, đĩa đệm thắt lưng- cùng).

Do phải chịu sức nặng của nửa trên cơ thể nên cấu tạo CấTL khoẻ chắc. Về chức năng đoạn CSTL có độ hoạt động rất lớn, gồm các động tác: Cúi, ngửa, nghiêng, và xoay với góc độ rộng. Đoạn CSTL có độ hoạt động rất lớn nên các vòng xơ của đĩa đệm, nhân nhầy phải có cấu tạo phù hợp để đảm bảo khả năng chịu lực, đàn hồi và di chuyển, khiến cho cột sống có chức năng giúp cơ thể vận động và lao động. Dường như mọi thay đổi sinh, cơ học vùng cột sống và các tổ chức lân cận đều có thể gây đau.

Người ta đã chứng mỉnh được rằng phần lớn các nguyên nhân gây đau cột sống, nhất là đoạn CSTL là do tổn thương đĩa đệm.1 Diện khớp Là mặt trên và mặt dưới hai thân đốt sống kề nhau. Hai mặt này lõm, giữa hai mặt có đĩa gian đốt, trong khớp có mâm sụn. Mâm sụn gắn chặt với tận cùng thân đốt sống bằng một lớp cân cơ có nhiều lỗ nhỏ giúp có việc dinh dưỡng ở khớp gian đốt. Mâm sụn là cấu trúc thuộc về thân đốt sống nhưng có liên quan chức năng trực tiếp với đĩa đệm.2 Đĩa gian đốt sống (đĩa đệm) Cấu tạo bằng xơ sun có hình thấu kính hai mặt lồi, đĩa đệm nằm trong khoang gian đốt gồm có vòng sợi và nhân nhầy.

Đĩa đệm vùng thắt lưng có chiều cao là 9 mm (trong khi chiều cao đĩa đệm vùng lưng là 5mm, vùng cổ là 3mm). + Vòng sợi: Gồm những sợi xơ sụn rất chắc và đàn hồi, đan ngoắc lấy nhau theo kiểu xoáy ốc, tạo thành hàng loạt các vòng sợi chạy dọc từ trên thân đốt này đến mặt dưới thân đốt phía trên. Giữa các vòng sợi có các vách ngăn gọi là yếu tố đàn hồi. Vòng sợi ở phái trước thường dày hơn phía sau và sau bên.

Phía sau và sau bên của vòng sợi được cấu trúc bởi các bó mạch tương đối mảnh, đây là điểm yếu về giải phẫu, thuận lợi cho việc phát sinh ra lồi hoặc thoát vị đĩa đệm. + Nhân nhầy: Được cấu tạo bằng một màng liên kết có hình giống như cúc áo, nằm ở trong vòng sợi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực trạng năng lực thực hành nghề điều dưỡng viên tại bệnh viện đào tạo từ trường THYT Quảng Ninh giai đoạn 2001-2005 là một nghiên cứu quan trọng đánh giá năng lực thực hành của điều dưỡng viên được đào tạo từ trường Trung học Y tế Quảng Ninh trong giai đoạn này. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về chất lượng đào tạo, những thách thức mà điều dưỡng viên gặp phải, và đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực thực hành. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý y tế, giảng viên đào tạo, và sinh viên điều dưỡng muốn cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Để hiểu rõ hơn về các chương trình đào tạo điều dưỡng, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ y tế công cộng xây dựng và đánh giá kết quả chương trình đào tạo qui trình hút đờm theo chuẩn năng lực cho điều dưỡng tại bệnh viện nhân dân 115 năm 2017 2018. Ngoài ra, nếu quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công việc của nhân viên y tế, Luận văn thực trạng stress của sinh viên trường cao đẳng y tế phú yên năm 2018 và một số yếu tố liên quan sẽ là tài liệu bổ ích. Cuối cùng, để mở rộng kiến thức về quản lý chất thải y tế, bạn có thể xem Luận văn thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức thực hành của nhân viên y tế bệnh viện đa khoa đan phượng thành phố hà nội năm 2014. Mỗi tài liệu này đều mang đến góc nhìn chuyên sâu, giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh liên quan đến lĩnh vực y tế và điều dưỡng.