ĐẶT VẤN ĐỀ Một câu nói của Bác Hồ mà chúng ta ai cũng nhớ, đó là “Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới”, cũng như lời Bác dặn"Phải giữ gìn sự đoàn kết như giữ gìn con ngươi của mắt mình". Đây là quan điểm có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, không chỉ nói lên tầm quan trọng của công tác Thanh tra, kiểm tra mà còn cho chúng ta thấy được tính tổ chức, kỷ luật trong bộ máy quản lý; trách nhiệm của các cơ quan Thanh tra, trách nhiệm của cấp trên, cấp dưới đối với công tác Thanh tra.[12] Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì Thanh tra là công tác quan trọng của cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước, do đó phải được tiến hành thường xuyên. Công tác Thanh tra nếu không được tiến hành thường xuyên tất yếu sẽ dẫn tới bệnh quan liêu, mệnh lệnh và từ đó sẽ tiếp tục gây ra những tác hại to lớn khác cho sự nghiệp cách mạng. Thông qua công tác Thanh tra, kiểm tra mới biết chủ trương, nghị quyết của Đảng, cơ chế, chính sách của Nhà nước đi vào cuộc sống ra sao? Có được thực hiện đầy đủ hay không? Cũng qua việc thường xuyên thanh tra, kiểm tra mà các nhà lãnh đạo, quản lý có được những thông tin phản hồi từ thực tế cuộc sống, đó là những dữ liệu quan trọng để đề ra những chủ trương, chính sách sát hợp với đòi hỏi của thực tiễn[33].
Công tác thanh tra, kiểm tra giúp cho việc đánh giá, nhận xét tình hình, kết quả thực hiện quy định chính sách nhà nước và từ đó đưa ra các khuyến nghị để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Hoạt động thanh tra luôn phải tuân thủ theo Luật Thanh tra, Luật khiếu nại, Luật tố cáo, qui trình thanh tra, Luật phòng chống tham nhũng, Luật xử phạt vi phạm hành chính và một số văn bản pháp qui khác. Theo báo cáo hoạt động thanh tra năm 2012 tại địa phương, lực lượng thanh tra y tế đã tiến hành thanh tra, kiểm tra tổng số 113.180 đơn vị, phát hiện 26.471 đơn vị vi phạm, tiến hành xử lý vi phạm 9.553 đơn vị và nhắc nhở một số đơn vị còn lại. Thực hiện Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, Điều lệ Thanh tra Nhà nước về y tế, Pháp lệnh Thanh tra, Luật Thanh tra năm 2004, 2005, 2010, Nghị định 77 năm 2006 của Chính phủ qui định về tổ chức hoạt động của Thanh tra y tế năm 1991-1992, Bộ Y tế, Sở Y tế các tỉnh, thành phố Trung ương trong cả nước đã lập ra cơ quan Thanh tra Nhà nước vể y tế 2 để thực hiện chức năng thanh tra theo qui định của pháp luật nhằm làm tốt công tác quản lý của ngành Y tế.
Trong quá trình hoạt động, được sự quan tâm của Bộ Y tế và các Sở Y tế, Thanh tra y tế đã không ngừng củng cố và phát triển, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế của đất nước. Kết quả trong việc xây dựng tổ chức và hoạt động của Thanh tra Y tế thời gian qua đã chứng tỏ Thanh tra Y tế tại địa phương có vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp Giám đốc Sở Y tế, Bộ trưởng Bộ Y tế làm tốt chức năng quản lý nhà nước, góp phần làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đã xuất hiện nhiều khó khăn, việc bất cập trong xây dựng tổ chức lực lượng và hoạt động của Thanh tra Y tế địa phương. Thực tế cho thấy tổ chức, số lượng, chất lượng Thanh tra viên tại địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý của ngành trong tình hình mới.
Số lượng Thanh tra Sở Y tế của cả nước có khoảng trên 260 người. Hầu hết Thanh tra Sở đều chưa có đủ hệ thống các phòng Thanh tra theo lĩnh vực. Số lượng cán bộ Thanh tra tại các tỉnh chỉ có 2 đến 5 cán bộ làm công tác thanh tra, ngoại trừ Sở Y tế Hà Nội và TPHCM là có đủ lực lượng Thanh tra viên theo các phòng Thanh tra. Nhân lực Thanh tra không ổn định, một số cán bộ đang làm công tác Thanh tra thì chuyển công tác khác.
Ngoài ra một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác thanh tra như cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động Thanh tra chưa đáp ứng, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ Thanh tra chưa thực sự hợp lý, cơ chế, động lực của làm việc, năng lực cán bộ Thanh tra còn hạn chế, số lượng đơn thư phản ánh, vi phạm quy chế chuyên môn, qui tắc ứng xử ngày càng tăng, các trường hợp giải quyết khiếu nại tồn đọng kéo dài. Mặt khác, một số hành vi vi phạm của cán bộ y tế, các cơ sở vi phạm, đơn thư phản ngày càng gia tăng, nhiều bất cập về chính sách… Do đó để thực hiện tốt quản lý nhà nước về lĩnh vực y tế cần phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, bổ sung nhân lực, nâng cao trình độ, thu hút và duy trì lực lượng Thanh tra y tế.Hiện tại chưa có nghiên cứu nào đánh giá về sự hài lòng đối với công việc của Thanh tra Sở Y tế. Vì thế việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng nguồn nhân lực Thanh tra y tế và một số yếu tố liên quan đến thu hút và duy trì nguồn nhân lực Thanh tra y tế” là vấn đề quan trọng, cần thiết, góp phần kiện toàn đội ngũ cán bộ Thanh tra sở y tế, nâng cao chất lượng cán bộ Thanh tra, hoạt động Thanh tra, hiệu quả quản lý nhà nước về y tế. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng nhân lực Thanh tra y tế tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương năm 2014. Phân tích một số yếu tố liên quan đến thu hút và duy trì nguồn nhân lực Thanh tra y tế tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn nhân lực y tế 1.
Khái niệm nguồn nhân lực y tế Năm 2006, WHO đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế (NLYT) bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. NLYT bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khoẻ gia đình, lang y…); kể cả những người làm việc trong ngành y tế và những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp)[43]. Từ định nghĩa NLYT của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “nhân lực y tế” bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lương y, bà đỡ, mụ vườn).
Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của tổ chức do chính bản chất của con người, Nhân viên có năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm, hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với các hoạt động của các cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh [36]. Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận nghiên cứu nhưng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên về nguồn nhân lực là: Số lượng nhân lực: Nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào, câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ cần thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai.
Đấy là những câu hỏi cho việc xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên 5 hai nhóm yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân. Chất lượng nhân lực: Là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ… của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
Cơ cấu nhân lực: Là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực, cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi… 1. Nhân lực y tế trên thế giới Theo báo cáo của WHO (2006) [43] có khoảng 59 triệu nhân viên y tế trên toàn thế giới. Trong đó những người cung cấp dịch vụ y tế chiếm 67% tổng số NVYT, và trong số này, có đến 57% ở châu Mỹ. Số lượng y tá/1000 bác sỹ cao nhất tại khu vực châu Phi do số lượng bác sỹ/1000 dân tại khu vực này là thấp.
Phân bố nhân lực, gánh nặnh bệnh tật, chi phí y tế theo khu vực Đông nam á Gánh nặng bênh tật toàn cầu Châu phi Địa trung hải Tây thái bình dương Châu âu Châu mỹ Nhân lực y tế thế giới Nguồn: World Health Organization. Global Atlas of the Health Workforce (http://www.int/globalatlas/default.asp, accessed 19 January 2006). Phân bố nhân lực, gánh nặng bệnh tật, chi phí y tế theo khu vực Hình trên cho thấy trục tung thể hiện cho gánh nặng bệnh tật, trục hoành thể hiện số lượng nhân lực y tế, các dấu chấm thể hiện mức độ chi phí cho y tế tại các Châu lục trên thế giới. Sự phân bổ gánh nặng bệnh tật, nhân viên y tế và các kích 6 thước các dấu chấm thể hiện tổng số tài chính chi phí y tế.
Cho thấy NVYT phân bổ không đều trên thế giới.