CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ THÔNG TIN CHUNG VỀ TĂNG HUYẾT ÁP VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 1. Định nghĩa về tăng huyết áp và đái tháo đường 1. Định nghĩa tăng huyết áp Tăng huyết áp (THA) là một trạng thái trong đó máu lưu thông dưới một áp suất tăng cao lâu dài.
Máu được mang từ tim đến tất cả các bộ phận của cơ thể qua các động mạch và tĩnh mạch. Mỗi lần tim đập, tim sẽ bơm máu đi khắp cơ thể. Huyết áp được tạo ra bằng lực của máu tác động lên thành trong của mạch máu khi máu được tim bơm đi khắp cơ thể. Tổ chức Y tế thế giới và Hội THA quốc tế đã thống nhất định nghĩa THA khi huyết áp tối đa ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu ≥ 90 mmHg [13],[14].
Định nghĩa đái tháo đường Theo Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ 2010: “Đái tháo đường (ĐTĐ) là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [15]. Gánh nặng bệnh tật do tăng huyết áp và đái tháo đường 1. Trên thế giới Tăng huyết áp Tổ chức Y tế thế giới và Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ nhận định, THA đã và đang trở thành một vấn đề y tế công cộng chính hiện nay.
Trên toàn cầu, bệnh tim mạch gây ra khoảng 17 triệu trường hợp tử vong mỗi luan an 5 năm, tức chiếm tới 1/3 tổng số tử vong, mà trong đó, có tới 9,4 triệu ca là từ biến chứng của THA [16]. THA là nguyên nhân gây ra ít nhất khoảng 45% ca tử vong do bệnh tim và 51% do đột quỵ [17]. Trong năm 2008, trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 40% người từ 25 tuổi trở lên được chẩn đoán mắc THA, tức số người mắc bệnh này đã tăng từ 600 triệu người vào năm 1980 lên thành 1 tỷ người vào năm 2008 [18]. Theo Tổ chức y tế thế giới (2014) trên thế giới tỷ lệ THA 8 - 18% dân số thay đổi từ các nước Châu Á như Indonesia 6 - 15%, Malaysia 10 - 11%, Đài Loan 28%, tới các nước Âu - Mỹ như Hà Lan 37%, Pháp 10 - 24%, Hoa Kỳ 24%.
Tỷ lệ THA ở người già tại Brazil (2013) là 46,9% [19], khu vực châu Phi là 46%[1]. THA là vấn đề ảnh hưởng đến 26% dân số trưởng thành trên thế giới. Năm 2000, có 972 triệu người mắc THA. Các nhà nghiên cứu đã ước tính rằng THA hiện đang giết chết 9 triệu người mỗi năm[1].
Số lượng người lớn bị THA được dự đoán sẽ tăng lên khoảng 60%, con số đó vào khoảng 1,6 tỷ người vào năm 2025 [20]. Có tới 10% chi phí chăm sóc sức khỏe liên quan đến THA, chi phí hàng năm cho THA là 370 tỷ đô [21]. Đái tháo đường ĐTĐ là một trong bốn bệnh không lây gây tàn phế và tử vong cao nhất (tim mạch, ĐTĐ, ung thư và bệnh đường hô hấp mạn tính) [22]. Hiệp hội Đái tháo đường thế giới (IDF) đã thống kê số người mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới là 110 triệu người năm 1994, 135 triệu người năm 1995, 171 triệu người năm 2000 và 381,8 triệu người năm 2013 [23].
Tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người trưởng thành đã tăng gấp đôi so với năm 1980, tăng từ 4,7% lên 8,5% [24]. Tỷ lệ này cao nhất ở khu vực Đông Địa Trung Hải và châu Mỹ (11%) và thấp nhất ở khu vực châu Âu và Tây Thái Bình Dương (9%) [25], [26]. Riêng vào năm luan an 6 2015, ước tính có khoảng 415 triệu người mắc ĐTĐ. Dự báo năm 2040 sẽ có 642 triệu người mắc ĐTĐ [27], chi tiết trong bảng 1.
Số lượng người mắc bệnh ĐTĐ tại một số vùng trên thế giới năm 2015, ước tính 2040. ĐTĐ dẫn đến thiệt hại kinh tế không nhỏ. Dựa trên những ước tính chi phí y tế từ những tổng quan nghiên cứu gần đây, người ta ước tính chi phí trực tiếp do điều trị ĐTĐ là trên 827 tỉ đô la [24], [28]. Tại Việt Nam Tăng huyết áp Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc THA đang gia tăng một cách nhanh chóng: năm 2000 có khoảng 16,3% người lớn mắc bệnh này, đến năm 2009 tỷ lệ THA ở người lớn là 25,4% và năm 2016 tỷ lệ người lớn bị THA đang ở mức báo động là 48%, một mức báo động đỏ trong thời điểm hiện tại [6].
THA là yếu tố nguy cơ chính gây ra tai biến mạch máu não, bệnh mạch vành và các bệnh tim mạch khác [29]. Theo điều tra của Viện Tim mạch Trung ương, tỷ lệ mắc THA ở người trưởng thành là 25,1% [25], tăng 48% so với tỷ lệ mắc công bố bởi Điều tra y tế quốc gia năm 2001-2002 [30]. Trung bình giai đoạn luan an 7 2002 - 2008 mỗi năm tăng 1,3%, ước tính nếu tăng tương tự như giai đoạn trước, đến năm 2025 tỷ lệ người THA sẽ trên 35% [31]. Cuộc điều tra quốc gia về yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm (BKLN) Việt Nam năm 2015 đã chỉ ra tỷ lệ hiện mắc THA là 18,9%, tỷ lệ này tăng từ 15,3% lên 20,3% trong độ tuổi từ 25-64 so với điều tra STEPS 2010 [32].
Huyết áp cao gây ra 91.560 ca tử vong năm 2010, chiếm 20,8% tổng số ca tử vong và 7,2% tổng số DALY, chủ yếu do tai biến mạch máu não và bệnh tim thiếu máu cục bộ [29]. Về quản lý và điều trị THA, trong nhóm được phát hiện huyết áp cao, chỉ 48,4% biết trước là đã mắc THA, 29,6% đang điều trị và 10,7% đang quản lý huyết áp hiệu quả [30]. Một nghiên cứu điều tra quốc gia chỉ ra rằng, trong nhóm đã phát hiện bệnh, 24,9% đang dùng thuốc còn lại 75,1% không sử dụng thuốc. Trong số những người có dùng thuốc (24,9%), có 9,7% kiểm soát được HA của mình [32].
Tóm lại, hiện nay ở Việt Nam, những nghiên cứu nêu trên góp phần củng cố và chứng minh rằng THA đã và đang có xu hướng tăng, diễn biến khó lường cùng những hậu quả nặng nề. Do đó, công tác phòng chống THA rất cần được quan tâm triển khai thực hiện. Đái tháo đường Theo thống kê của IDF (năm 2015), ở Việt Nam có 3,5 triệu ca mắc bệnh ĐTĐ và gần 53,5 người tử vong vì căn bệnh này [33]. Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã công bố kết quả cho biết tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ lứa tuổi 30- 69 tuổi toàn quốc là 2,7% vào năm 2006{Bệnh viện Nội tiết Trung ương, 2013 #38}, tăng gấp đôi lên 5,4% năm 2012 [7].
Đây là điều đáng báo động khi tỷ lệ ĐTĐ gia tăng{Tạ Văn Bình, 2004 #37} nhanh hơn dự báo. Ước tính, năm 2010 tỷ lệ ĐTĐ ở nhóm tuổi từ 20-79 tuổi là 2,9% tương ứng 1,65 triệu luan an 8 người bị bệnh và dự báo sẽ tăng lên 3,42 triệu người vào năm 2030, gia tăng 88.000 người một năm [8]. Theo báo cáo chung tổng quan ngành y tế 2015, tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ trên quy mô quốc gia về gánh nặng bệnh tật gây ra do ĐTĐ. Một số tài liệu cho thấy, trong số người tử vong, tỷ trọng do BKLN tăng từ 56% năm 1990 lên 72% năm 2010 [34], trong đó bệnh tim mạch chiếm 30%, ung thư 21%, bệnh đường hô hấp mạn tính 6%, tâm thần – kinh 2% và ĐTĐ 3%, tuy nhiên tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng của nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu.
Riêng chi phí cho điều trị ĐTD đã chiếm khoảng 3-6% ngân sách dành cho y tế hàng năm. Trong khi đó, số người ĐTĐ không được phát hiện chiếm tỷ lệ cao. Theo điều tra về dịch tễ ĐTĐ ở nước ta tập trung vào đối tượng từ 30 đến 64 tuổi ở 04 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc bệnh là 4%, có tới 64,9% số người bệnh ĐTĐ không được phát hiện và hướng dẫn điều trị. Theo nghiên cứu của cục Y tế dự phòng (năm 2015) trên tất cả người dân 18 - 69 tuổi tại 63 tỉnh thành trên toàn quốc cho thấy 68,9% người tăng đường huyết chưa được phát hiện [32].VAI TRÒ CỦA TRẠM Y TẾ XÃ TRONG PHÒNG CHỐNG BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 1.
Chức năng và nhiệm vụ của trạm y tế xã - Trạm y tế xã Trạm Y tế xã/phường/thị trấn (gọi chung là Trạm Y tế xã) là đơn vị y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Trung tâm Y tế huyện), được thành lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã). TYT xã có chức năng cung cấp, thực hiện các dịch luan an 9 vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn xã [35],[36]. TYT xã là đơn vị kỹ thuật đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong hệ thống y tế nhà nước có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ CSSK ban đầu, phát hiện sớm các dịch bệnh và phòng chống dịch bệnh, đỡ đẻ thông thường, cung cấp thuốc thiết yếu, vận động nhân dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình và tăng cường sức khỏe [31]. Do đó, rất nhiều văn bản nêu rõ vai trò của TYT xã trong phòng chống các bệnh KLN.
Nghị định số 117/2014/NĐ-CP ban hành ngày 8/12/2014 của Chính phủ, quy định chức năng của TYT xã về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn xã, trong đó có quản lý BKLN nói chung và xử trí THA và ĐTĐ nói riêng [36]. Nghị quyết 20/NQ- TW của Ban chấp hành Trung ương khóa XII, đặt mục tiêu đến năm 2025 đạt 95% trạm y tế xã sẽ thực hiện dự phòng, quản lý và điều trị một số BKLN phổ biến như THA, ĐTĐ, con số này sẽ tăng lên 100% vào năm 2030. Gần đây nhất, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 2559 /QĐ-BYT ngày 20/04/2018 về Kế hoạch tăng cường thực hiện điều trị, quản lý tăng huyết áp và đái tháo đường theo nguyên lý y học gia đình tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn giai đoạn 2018-2020, trong đó chỉ rõ nội dung dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị và quản lý THA và ĐTĐ mà TYT cần thực hiện: + Đối với THA: Phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị và quản lý THA không có biến chứng; Điều trị, quản lý THA đối với các trường hợp được tuyến trên chuyển về; Xử trí và chuyển người bệnh lên tuyến trên khi vượt quá khả năng chuyên môn.