Tổng quan nghiên cứu

Lực lượng lao động nông thôn tại Việt Nam chiếm tới 70,3% tổng lực lượng lao động cả nước với hơn 36,14 triệu người, tuy nhiên chỉ đóng góp chưa đầy 21% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Cùng với tốc độ gia tăng dân số tự nhiên bổ sung gần 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động mỗi năm, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang thu hẹp quỹ đất sản xuất với tốc độ chuyển đổi khoảng 25.000 đến 30.000 ha đất nông nghiệp mỗi năm trên toàn quốc. Thực trạng này đặt ra thách thức gay gắt về vấn đề việc làm và thu nhập cho hàng triệu lao động nông nhàn chưa qua đào tạo kỹ năng nghề.

Tại tỉnh Hưng Yên, tốc độ phát triển các khu công nghiệp diễn ra mạnh mẽ đã kéo theo sự sụt giảm hơn 940 ha đất nông nghiệp trong giai đoạn 2010–2012, khiến tỷ lệ thất nghiệp có thời điểm tăng vọt lên mức 1,85%. Nhằm giải quyết bài toán sinh kế, việc triển khai Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 được xác định là nhiệm vụ trọng tâm.

Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Thân Thị Hương tập trung phân tích thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, thông qua khảo sát thực tế tại xã Hồng Nam (thành phố Hưng Yên) và xã Lý Thường Kiệt (huyện Yên Mỹ). Nghiên cứu làm rõ các chiều kích cơ bản: cơ cấu đối tượng thụ hưởng, loại hình đào tạo, chi phí học nghề, vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội và mức độ chuyển đổi việc làm sau đào tạo. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực nghiệm nhằm kiểm chứng mục tiêu tối thiểu 70% lao động có việc làm sau đào tạo, phục vụ trực tiếp công tác hoàn thiện chính sách an sinh xã hội tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng ba lý thuyết nền tảng trong xã hội học để xây dựng khung phân tích toàn diện về chính sách công:

Thứ nhất, Lý thuyết cấu trúc xã hội nhìn nhận hệ thống đào tạo nghề là một tiểu hệ thống gắn kết hữu cơ với các tiểu hệ thống kinh tế, quản trị nhà nước và thị trường lao động. Hiệu quả của chính sách không chỉ phụ thuộc vào cơ sở dạy nghề mà đòi hỏi sự vận hành đồng bộ giữa cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức đoàn thể địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và chính người học.

Thứ hai, Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber với bốn mô thức hành động: hành động duy lý công cụ, hành động duy lý giá trị, hành động cảm tính và hành động truyền thống. Lý thuyết này giải thích sự chuyển biến tâm lý của người nông dân từ thói quen sản xuất nông nghiệp dựa vào kinh nghiệm gia truyền sang hành động duy lý công cụ, khi họ bắt đầu tính toán chi phí, thời gian và lợi ích kinh tế trước khi đăng ký tham gia các khóa đào tạo nghề phi nông nghiệp.

Thứ ba, Lý thuyết nhu cầu tiếp cận đào tạo nghề như một đòi hỏi tất yếu của đời sống xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh kế và gia tăng thu nhập. Động cơ học nghề chỉ xuất hiện bền vững khi nội dung đào tạo tương thích trực tiếp với nhu cầu việc làm thực tế tại địa phương.

Hệ thống khái niệm công cụ được chuẩn hóa dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm khái niệm Chính sách xã hội, Thực hiện chính sách, Lao động nông thôn và Đào tạo nghề theo Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11 cùng Quyết định số 1956/QĐ-TTg.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao:

Về phương pháp định lượng, dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu trưng cầu ý kiến với tổng quy mô mẫu là 175 lao động nông thôn, trong đó xã Hồng Nam chiếm 93 phiếu và xã Lý Thường Kiệt chiếm 82 phiếu. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm phản ánh đặc trưng của hai mô hình: xã ven đô thị hóa trực thuộc thành phố và xã công nghiệp hóa thuộc địa bàn huyện. Dữ liệu thứ cấp được khai thác từ Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2008–2012 và các báo cáo tình hình lao động - việc làm thường niên của hai xã khảo sát.

Về phương pháp định tính, nghiên cứu thực hiện 10 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp bảo đảm nguyên tắc khuyết danh (mỗi xã 5 mẫu, bao gồm 2 người tham gia học nghề, 2 cán bộ quản lý chính quyền/đoàn thể cơ sở và 1 người chưa tham gia đào tạo nghề) kết hợp quan sát thực địa tại các lớp học nghề.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kết hợp là nhằm lượng hóa các chỉ số tương quan về cơ cấu đào tạo, đồng thời lý giải sâu sắc các rào cản văn hóa - xã hội, động cơ cá nhân và những khó khăn nội tại trong quy trình quản lý cấp cơ sở.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận bốn phát hiện thực tiễn quan trọng về việc thực thi chính sách đào tạo nghề tại tỉnh Hưng Yên:

Thứ nhất, áp lực việc làm gia tăng do biến động đất đai. Tại Hưng Yên, tỷ lệ lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên so với dân số tăng liên tục từ 60,69% năm 2008 lên 63,19% năm 2012. Quá trình thu hồi 940 ha đất nông nghiệp trong giai đoạn 2010–2012 khiến tỷ lệ thất nghiệp năm 2010 tăng đột biến lên 1,85%, trong đó thất nghiệp ở lao động nữ lên tới 2,20%. Khảo sát nhóm thanh niên nông thôn cho thấy 68,4% chưa qua đào tạo nghề và 53,1% rơi vào tình trạng thiếu đất sản xuất.

Thứ hai, cơ cấu loại hình đào tạo còn thiên lệch. Hơn 85% người học lựa chọn các khóa dạy nghề ngắn hạn trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng. Các chương trình trung cấp nghề và cao đẳng nghề chỉ chiếm dưới 15% tổng số học viên do thời gian học kéo dài và gánh nặng chi phí sinh hoạt.

Thứ ba, sự thay đổi tích cực từ chính sách hỗ trợ tài chính. Việc triển khai mức hỗ trợ học nghề ngắn hạn từ 2 đến 3 triệu đồng/người/khóa kèm trợ cấp tiền ăn 15.000 đồng/ngày thực học và 200.000 đồng chi phí đi lại theo Đề án 1956 đã tháo gỡ đáng kể rào cản kinh tế cho các hộ nghèo và gia đình bị thu hồi đất.

Thứ tư, vai trò nòng cốt của các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở. Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên là kênh truyền thông hiệu quả nhất, cung cấp thông tin khóa học cho hơn 65% người tham gia khảo sát tại xã Hồng Nam và xã Lý Thường Kiệt.

Thảo luận kết quả

Thực tế triển khai chính sách đào tạo nghề tại Hưng Yên phản ánh sự dịch chuyển tích cực của cơ cấu lao động theo loại hình kinh tế. Lao động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã tăng gần gấp đôi từ 24.500 người (chiếm 3,64%) năm 2008 lên 42.500 người (chiếm 5,96%) năm 2012. Số liệu này có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ đường thể hiện đà tăng trưởng việc làm công nghiệp đối lập với đà giảm diện tích đất canh tác.

Tuy nhiên, thảo luận kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự bất cập lớn giữa cung và cầu đào tạo. Nhiều lớp học nghề vẫn tổ chức theo năng lực sẵn có của cơ sở dạy nghề thay vì bám sát đơn đặt hàng của các doanh nghiệp trên địa bàn. Trang thiết bị thực hành tại một số trung tâm còn lạc hậu, đội ngũ giáo viên cơ hữu thiếu kinh nghiệm sản xuất công nghiệp hiện đại. Bảng phân tích mức độ hài lòng của người dân cho thấy tỷ lệ hài lòng tuyệt đối còn khiêm tốn do thiếu định hướng đầu ra ổn định sau tốt nghiệp. Dù tỷ lệ có việc làm sau đào tạo tại Hồng Nam đạt khoảng 72% và Lý Thường Kiệt đạt khoảng 68%, phần lớn công việc mới chỉ mang tính chất thời vụ với mức thu nhập từ 1,8 đến 2,5 triệu đồng/tháng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng và tính bền vững của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, đổi mới công tác khảo sát và dự báo nhu cầu học nghề. Ủy ban nhân dân cấp huyện phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các xã Hồng Nam và Lý Thường Kiệt tiến hành điều tra định kỳ 100% nhu cầu học nghề của các hộ bị thu hồi đất trước mỗi chu kỳ cấp ngân sách; chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình đào tạo theo hợp đồng đặt hàng tuyển dụng của các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động có việc làm đúng nghề đạt trên 80% trong giai đoạn tiếp theo.

Thứ hai, hiện đại hóa chương trình và cơ sở vật chất kỹ thuật dạy nghề. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Hưng Yên cần phân bổ nguồn vốn mục tiêu quốc gia để nâng cấp trang thiết bị thực hành; chuẩn hóa giáo trình đào tạo với cơ cấu tối thiểu 70% thời lượng dành cho thực hành kỹ năng và rèn luyện tác phong lao động công nghiệp, hoàn thành cập nhật 100% chương trình nghề phi nông nghiệp trước năm 2016.

Thứ ba, điều chỉnh định mức chính sách hỗ trợ tài chính và mở rộng vốn vay. Kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên đề xuất cấp thẩm quyền điều chỉnh nâng định mức trợ cấp tiền ăn từ mức 15.000 đồng/ngày lên mức tương ứng giá cả thị trường; Ngân hàng Chính sách Xã hội mở rộng gói tín dụng hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn tạo việc làm sau học nghề cho ít nhất 500 lượt lao động mỗi năm.

Thứ tư, nâng cao năng lực điều phối của hệ thống chính trị cơ sở. Ban Chỉ đạo Đề án 1956 cấp xã cần giao chỉ tiêu cụ thể cho Hội Phụ nữ và Hội Nông dân trong công tác tư vấn, giám sát việc làm sau đào tạo; thiết lập mạng lưới kết nối cung - cầu lao động trực tiếp tại từng thôn xóm để 100% người dân thuộc diện chính sách được tiếp cận thông tin kịp thời.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách, đặc biệt là Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân cấp huyện, thành phố và Ban chỉ đạo Đề án 1956 tỉnh Hưng Yên. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực chứng phục vụ công tác rà soát quy hoạch phát triển nhân lực và hoàn thiện cơ chế phân bổ kinh phí đào tạo nghề.

Nhóm thứ hai là ban giám hiệu các trường cao đẳng, trung cấp nghề và trung tâm giáo dục nghề nghiệp. Dữ liệu khảo sát giúp các nhà quản lý giáo dục nắm bắt tâm lý, nhu cầu thực tế của người học để tái cấu trúc chương trình đào tạo theo hướng thực hành và liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp FDI.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Xã hội học, Kinh tế lao động, Quản lý công. Công trình là mô hình mẫu về việc vận dụng lý thuyết hành động xã hội của Weber và lý thuyết cấu trúc xã hội vào đánh giá tác động của chính sách công bằng phương pháp hỗn hợp.

Nhóm thứ tư là cán bộ đoàn thể địa phương bao gồm Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên các cấp. Báo cáo cung cấp các chỉ dẫn thực tế giúp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, hướng nghiệp và hỗ trợ sinh kế cho các nhóm lao động yếu thế tại vùng nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Đề án 1956 quy định mức hỗ trợ chi phí học nghề cho lao động nông thôn cụ thể như thế nào?

Theo Quyết định 1956/QĐ-TTg, lao động thuộc diện chính sách người có công, hộ nghèo, người bị thu hồi đất được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn tối đa 3 triệu đồng/người/khóa, hỗ trợ tiền ăn 15.000 đồng/ngày thực học và tiền đi lại tối đa 200.000 đồng. Lao động diện cận nghèo được hỗ trợ tối đa 2,5 triệu đồng và các đối tượng lao động nông thôn khác được hỗ trợ tối đa 2 triệu đồng/khóa.

Vì sao phần lớn lao động nông thôn tại Hưng Yên lựa chọn học nghề ngắn hạn dưới 3 tháng?

Khảo sát thực tế chỉ ra hơn 85% người học lựa chọn học nghề ngắn hạn do thời gian đào tạo linh hoạt, dễ sắp xếp xen kẽ lịch mùa vụ và nhanh chóng hoàn thành để tìm kiếm việc làm bù đắp thu nhập. Học nghề dài hạn đòi hỏi chi phí cơ hội lớn khi người lao động phải tạm ngừng lao động kiếm sống hàng ngày mà thiếu nguồn tài trợ sinh hoạt phí kéo dài.

Tác động của quá trình thu hồi đất nông nghiệp đến tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ diễn ra ra sao?

Quá trình chuyển đổi hơn 940 ha đất canh tác sang công nghiệp giai đoạn 2010–2012 khiến tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ tại Hưng Yên tăng vọt lên mức 2,20% vào năm 2010. Phụ nữ nông thôn chịu thiệt hại lớn hơn do khó di chuyển làm các công việc xây dựng, tự do như nam giới, đòi hỏi chính sách đào tạo nghề may mặc và chế biến phù hợp tại chỗ.

Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber soi sáng vấn đề chọn nghề của người nông dân như thế nào?

Lý thuyết của Max Weber phân tích sự chuyển hóa hành động của người nông dân từ thói quen truyền thống (làm ruộng theo kinh nghiệm cha truyền con nối) sang hành động duy lý công cụ. Khi bị thu hồi đất sản xuất, họ thực hiện các tính toán chi tiết về thời gian học, chi phí bỏ ra và khả năng tìm việc làm có thu nhập ổn định để quyết định tham gia lớp học nghề.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại địa phương đóng vai trò gì đối với lao động sau đào tạo?

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Hưng Yên đã gia tăng quy mô tuyển dụng từ 24.500 lao động năm 2008 lên 42.500 người năm 2012. Đây là nguồn cầu việc làm chủ lực, tạo động lực để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đổi mới chương trình, đào tạo lao động có tay nghề kỹ thuật và tác phong kỷ luật công nghiệp đáp ứng yêu cầu tuyển dụng.

Kết luận

  1. Nghiên cứu khẳng định Đề án 1956 là chính sách đúng đắn, kịp thời, góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong bối cảnh Hưng Yên chuyển đổi mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp.
  2. Tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo tại hai xã Hồng Nam và Lý Thường Kiệt đạt từ 68% đến 72%, cơ bản tiệm cận mục tiêu 70% của giai đoạn 2011–2015.
  3. Hạn chế cốt lõi là cơ cấu dạy nghề còn mang tính ngắn hạn (trên 85%), trang thiết bị dạy nghề chưa hiện đại và chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp khu công nghiệp.
  4. Vai trò của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cơ sở được chứng minh là nhân tố quyết định hiệu quả truyền thông chính sách đến hơn 65% người dân.
  5. Về mặt học thuật, công trình đóng góp khung phân tích xã hội học thực nghiệm sâu sắc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết cấu trúc và lý thuyết hành động xã hội duy lý.

Trong giai đoạn tiếp theo đến năm 2020, tỉnh Hưng Yên cần đẩy mạnh số hóa dữ liệu nhu cầu học nghề, nâng định mức hỗ trợ và mở rộng hợp tác công tư giữa nhà trường với doanh nghiệp nhằm nâng tỷ lệ có việc làm bền vững lên trên 80%.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ sở đào tạo có thể khai thác toàn diện luận văn này để xây dựng các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn hiệu quả và bền vững.