MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trải qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, kể từ Ðại hội VI (năm 1986), và hơn 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đến nay, Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn, hết sức quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới với việc gia nhập các tổ chức Thương mại WTO, ASEM.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội và quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra nhanh, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Hiện nay, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với 36,1465 triệu lao động nông thôn, chiếm 70,3% trong tổng số lao động của cả nước, trong đó lao động nông thôn từ 15 tuổi trở lên chiếm 48,0% lực lượng lao động toàn xã hội [20]. Ngoài ra, hằng năm lại có thêm gần 1 triệu người đến tuổi lao động bổ sung vào đội ngũ lực lượng lao động. Đây là lực lượng lao động có vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và sự ổn định chính trị của đất nước.
Song thực tế hiện nay, lực lượng lao động nông thôn được đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về nghề nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp, hầu hết các kiến thức, kinh nghiệm người lao động sử dụng đều thông qua sự đúc rút kinh nghiệm trong quá trình làm việc và sự truyền dạy lại của các thế hệ trước. Với những kinh nghiệm này, họ không thể đáp ứng được với những yêu cầu của công việc phi nông nghiệp, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nên cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Chất lượng của nguồn nhân lực vốn được xem là khâu then chốt để nâng cao tính bền vững của nền kinh tế, của phát triển xã hội thì vẫn còn nhiều hạn chế hay nói đúng hơn là vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập. Mặt khác vấn đề đào tạo nghề và sử dụng lao động đã được đào tạo đang còn nhiều bất cập như: Các trường đại học, cao đẳng ồ ạt mở rộng đào tạo đến cả bậc trung cấp nghề, nhưng hầu hết trang thiết bị của các trường nghề đều rơi vào tình trạng lạc hậu.
Có những trường nghề hiện nay còn dùng các loại máy móc những năm 60 - 70 của thế kỷ 20 được nhập từ các nước Ðông Âu; đội ngũ giáo viên cũng chưa thật sự đủ mạnh để có thể truyền nghề cho học sinh của mình. Từ thực tiễn công tác đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng, chúng ta có thể nhận thấy một nghịch lý tồn tại hiển nhiên "thừa thầy thiếu thợ", chưa kể tâm lý học trung cấp rất khó tìm được việc làm, nếu có thì thu nhập cũng ở mức rất thấp. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng để đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Chính vì vậy, ngày 27/11/2009, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 1956/QĐ-TTg phê duyệt đề án 1956 về “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” nhằm góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông thôn và hoàn thành mục tiêu chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn được xem là "chìa khóa" thành công cho nhiều chương trình, mục tiêu quốc gia. Phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn liền với việc làm, thu nhập và đời sống của người nông dân. Chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế phải đồng nghĩa với trang bị nghề mới và tạo việc làm mới cho người lao động. Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, mục tiêu xây dựng nông thôn mới., chỉ có thể thành công khi lực lượng LĐNT 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vững tâm với nghề nghiệp, với nguồn thu nhập đủ để bảo đảm cuộc sống.
Sau 4 năm thực hiện, đề án 1956 đã mang lại hiệu quả tích cực đối với người dân nông thôn, giúp người dân tìm được việc làm, xóa đói giảm nghèo, góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Hưng Yên là một tỉnh có nhiều khu công nghiệp thu hút lao động tham gia, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả do công nghiệp hóa, hiện đại hóa mang lại, việc phát triển khu công nghiệp địa phương đã làm cho nhiều người dân bị mất đất, mất phương tiện sản xuất. Yêu cầu đào tạo nghề cho người dân để họ tìm kiếm việc làm, chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp của địa phương sang công nghiệp, dịch vụ là một yêu cầu cấp thiết.
Chính vì vậy, khi đề án 1956 của Thủ tướng chính phủ được ban hành, Ủy ban nhân dân tỉnh đã yêu cầu các sở, uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, các tổ chức chính trị - xã hội liên quan theo chức năng, nhiệm vụ của mình cùng tham gia vào công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn để mục đích của đề án đạt được kết quả cao nhất, mang lại hiệu quả thiết thực với người dân. Vậy, việc thực hiện đó được tiến hành như thế nào? Kết quả ra sao? Người dân có hài lòng với các chính sách được hưởng không? Quá trình thực hiện có thuận lợi và khó khăn gì không? Để trả lời những câu hỏi đó tôi lựa chọn đề tài “Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Hưng Yên” làm chủ đề nghiên cứu trong luận văn của mình. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Kể từ khi đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 (Đề án 1956) được ban hành, đào tạo nghề cho lao động nông thôn đang nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương. Đã có một số luận án 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiến sỹ và bài báo bàn về vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn, giúp chúng ta có cái nhìn đa chiều hơn đối với vấn đề này.
Về thực trạng đào tạo nghề cho lao động nói chung và cho lao động nông thôn nói riêng, hiện nay có các công trình nghiên cứu, các bài viết như: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Nguyễn Văn Đại; “Việc làm cho người lao động ở các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam” của Trần Đình Chín; “Đào tạo nghề cho nông dân trong thời kì hội nhập quốc tế” của TS Nguyễn Tiến Dũng – Tổng Cục trưởng Tổng cục dạy nghề, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội; “Đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn nước ta hiện nay” của Nguyễn Việt Quân – tạp chí Cộng sản; “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, 3 năm nhìn lại” của Mai Phương trên Tạp chí Cộng sản. Những công trình nghiên cứu trên cung cấp cho tác giả luận văn một cái nhìn tổng quát về thực trạng việc làm cho lao động nông thôn, nhu cầu đào tạo cũng như giải pháp để thúc đẩy việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Điểm chung của các công trình này đều nêu ra được các vấn đề còn tồn tại trong công các đào tạo nghề: “Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở nước ta chưa được coi trọng đúng mức. Nhiều bộ, ngành, địa phương, cán bộ và xã hội nhận thức chưa đầy đủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, coi đào tạo nghề chỉ là cứu cánh, có tính thời điểm, không phải là vấn đề quan tâm thường xuyên, liên tục và có hệ thống.
Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn còn cầm chừng, chưa có sự vào cuộc quyết liệt của lãnh đạo các cấp, công tác điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu dạy nghề cho lao động nông thôn còn gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, nhiều nông dân chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc đào tạo nghề nên không mặn mà với các trung tâm dạy nghề.” Đây chính là những nguyên nhân khiến cho công tác đào tạo nghề chưa thực sự hiệu quả. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với nghiên cứu “Đào tạo nghề cho nông dân trong thời kì hội nhập quốc tế” Nguyễn Tiến Dũng – Tổng Cục trưởng Tổng cục dạy nghề đã nêu lên những kết quả bước đầu thực hiện đề án 1956. Cũng nói về thực trạng đào tạo nghề, Nguyễn Việt Quân với công trình nghiên cứu“Đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn nước ta hiện nay” đã nêu lên yêu cầu cấp thiết của việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đồng thời dự báo tình hình lao động trong những năm sắp tới.
Cùng với những bài viết của hai tác giả trên, với việc nhìn nhận kết quả thực hiện đề án 1956 trong ba năm từ 2010 đến 2013 với những con số thống kê chính sách, cung cấp cho người đọc một cái nhìn cụ thể về kết quả mà đề án mang lại: “Hoạt động dạy nghề cho nông dân và lao động nông thôn không chỉ huy động các cơ sở chuyên dạy nghề mà còn thu hút được sự tham gia của các viện nghiên cứu, các trường đại học; sự tham gia giảng dạy của những lao động kỹ thuật từ các doanh nghiệp; những nghệ nhân, người có tay nghề cao trong các làng nghề… Bản thân người nông dân và lao động nông thôn là những đối tượng được thụ hưởng chính sách cũng đã tích cực, ủng hộ chủ trương của Chính phủ, từ việc xác định được nhu cầu học nghề của mình phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đến việc tham gia đầy đủ các khóa đào tạo.