Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Hưng Yên

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Hưng Yên, khảo sát tại xã Hồng Nam và xã Lý Thường Kiệt.

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

106
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

0.3. Ý nghĩa nghiên cứu

0.4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

0.6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

0.7. Phương pháp nghiên cứu

0.8. Khung phân tích

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Một số khái niệm công cụ. Khái niệm chính sách và khái niệm thực hiện chính sách

1.2. Khái niệm lao động, người lao động. Khái niệm nông thôn, lao động nông thôn. Khái niệm đào tạo nghề

1.3. Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu

1.3.1. Lý thuyết cấu trúc xã hội

1.3.2. Lý thuyết hành động xã hội của nhà xã hội học M.

1.3.3. Lý thuyết nhu cầu

1.4. Một số quan điểm của Đảng và nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

1.5. Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020

1.6. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

1.7. Khái quát tình hình lao động và việc làm của lao động tỉnh Hưng Yên

1.8. Thực trạng lao động, việc làm của lao động tỉnh Hưng Yên

1.9. Trình độ lao động đã qua đào tạo của tỉnh Hưng Yên

2. CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG TẠI TỈNH HƯNG YÊN HIỆN NAY

2.1. Các chính sách đào tạo nghề thực hiện tại tỉnh Hưng Yên

2.2. Đối tượng tham gia đào tạo nghề. Loại hình đào tạo nghề

2.3. Địa điểm học nghề

2.4. Chi phí đào tạo nghề

2.5. Hiệu quả của chính sách đào tạo nghề

2.6. Vai trò của các tổ chức xã hội tại địa phương

2.7. Mong muốn học nghề của người lao động trong những năm tới

2.8. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Hưng Yên

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Hưng Yên

Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Hưng Yên đã được triển khai từ nhiều năm qua, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ lao động nông thôn được đào tạo nghề vẫn còn thấp, dẫn đến tình trạng thiếu hụt kỹ năng trong lực lượng lao động. Đặc biệt, việc áp dụng các chương trình đào tạo chưa thực sự phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

1.1. Đánh giá tổng quan về chính sách đào tạo nghề tại Hưng Yên

Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Hưng Yên được xây dựng dựa trên Đề án 1956 của Chính phủ. Đề án này nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng lao động, tạo việc làm và giảm nghèo. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách này còn gặp nhiều khó khăn, như thiếu nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất. Nhiều trung tâm đào tạo nghề chưa đáp ứng được yêu cầu về trang thiết bị và đội ngũ giảng viên.

1.2. Tình hình lao động nông thôn và nhu cầu đào tạo nghề

Lao động nông thôn tại Hưng Yên chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, với tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề chiếm phần lớn. Nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn ngày càng tăng cao, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, nhiều người dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc học nghề.

II. Những thách thức trong việc thực hiện chính sách đào tạo nghề tại Hưng Yên

Việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Hưng Yên đang đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu đồng bộ trong công tác quản lý và triển khai. Nhiều địa phương chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn lực. Bên cạnh đó, tâm lý e ngại của người lao động cũng là một rào cản lớn trong việc tham gia các khóa đào tạo.

2.1. Thiếu hụt nguồn lực và cơ sở vật chất

Nhiều trung tâm đào tạo nghề tại Hưng Yên gặp khó khăn trong việc huy động nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất. Trang thiết bị lạc hậu, đội ngũ giảng viên thiếu kinh nghiệm là những vấn đề cần được khắc phục. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo và khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

2.2. Tâm lý e ngại của người lao động

Nhiều lao động nông thôn vẫn còn tâm lý e ngại khi tham gia các khóa đào tạo nghề. Họ lo lắng về khả năng tìm việc làm sau khi học nghề, cũng như mức thu nhập không đảm bảo. Điều này dẫn đến việc nhiều người không mặn mà với các chương trình đào tạo, dù chúng có thể mang lại lợi ích lâu dài.

III. Phương pháp cải thiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Để cải thiện hiệu quả của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Hưng Yên, cần áp dụng một số phương pháp cụ thể. Việc tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, cải thiện cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng giảng dạy là những yếu tố quan trọng. Đồng thời, cần có các chương trình tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích của việc học nghề.

3.1. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng

Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng là rất cần thiết để đảm bảo việc triển khai chính sách đào tạo nghề hiệu quả. Các sở, ban, ngành cần có sự liên kết trong việc xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

3.2. Cải thiện cơ sở vật chất và chất lượng giảng dạy

Cần đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất cho các trung tâm đào tạo nghề, đảm bảo trang thiết bị hiện đại và phù hợp với yêu cầu đào tạo. Đồng thời, cần chú trọng đến việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, giúp họ cập nhật kiến thức và kỹ năng mới để truyền đạt cho học viên.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về đào tạo nghề

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Hưng Yên đã mang lại nhiều lợi ích. Nhiều lao động sau khi tham gia các khóa học đã tìm được việc làm ổn định, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để đảm bảo tính bền vững của các chương trình đào tạo.

4.1. Kết quả đạt được từ các chương trình đào tạo

Nhiều lao động nông thôn đã tìm được việc làm sau khi tham gia các khóa đào tạo nghề. Điều này không chỉ giúp họ nâng cao thu nhập mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế địa phương. Các chương trình đào tạo nghề đã giúp người lao động có thêm kỹ năng, đáp ứng nhu cầu của thị trường.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Từ thực tiễn triển khai chính sách đào tạo nghề, có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Việc lắng nghe ý kiến của người lao động, điều chỉnh chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế là rất quan trọng. Đồng thời, cần có sự hỗ trợ từ các tổ chức xã hội và doanh nghiệp trong việc tạo việc làm cho lao động sau đào tạo.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho chính sách đào tạo nghề

Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Hưng Yên cần được tiếp tục cải thiện và phát triển. Việc nâng cao chất lượng đào tạo, cải thiện cơ sở vật chất và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng là những yếu tố then chốt. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc tạo ra các chương trình đào tạo linh hoạt, phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

5.1. Định hướng phát triển chính sách đào tạo nghề

Cần xây dựng các chương trình đào tạo nghề linh hoạt, phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ cho người lao động tham gia học nghề, như giảm học phí hoặc hỗ trợ chi phí sinh hoạt.

5.2. Tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong đào tạo nghề

Doanh nghiệp cần tham gia tích cực hơn trong việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Họ có thể hỗ trợ về tài chính, cung cấp trang thiết bị và tham gia giảng dạy. Sự hợp tác này sẽ giúp đảm bảo rằng chương trình đào tạo đáp ứng được nhu cầu thực tế của thị trường.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh hưng yên khảo sát tại xã hồng nam và xã lý thường kiệt

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trải qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, kể từ Ðại hội VI (năm 1986), và hơn 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đến nay, Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn, hết sức quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới với việc gia nhập các tổ chức Thương mại WTO, ASEM.

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội và quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra nhanh, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Hiện nay, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với 36,1465 triệu lao động nông thôn, chiếm 70,3% trong tổng số lao động của cả nước, trong đó lao động nông thôn từ 15 tuổi trở lên chiếm 48,0% lực lượng lao động toàn xã hội [20]. Ngoài ra, hằng năm lại có thêm gần 1 triệu người đến tuổi lao động bổ sung vào đội ngũ lực lượng lao động. Đây là lực lượng lao động có vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và sự ổn định chính trị của đất nước.

Song thực tế hiện nay, lực lượng lao động nông thôn được đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về nghề nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp, hầu hết các kiến thức, kinh nghiệm người lao động sử dụng đều thông qua sự đúc rút kinh nghiệm trong quá trình làm việc và sự truyền dạy lại của các thế hệ trước. Với những kinh nghiệm này, họ không thể đáp ứng được với những yêu cầu của công việc phi nông nghiệp, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nên cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Chất lượng của nguồn nhân lực vốn được xem là khâu then chốt để nâng cao tính bền vững của nền kinh tế, của phát triển xã hội thì vẫn còn nhiều hạn chế hay nói đúng hơn là vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập. Mặt khác vấn đề đào tạo nghề và sử dụng lao động đã được đào tạo đang còn nhiều bất cập như: Các trường đại học, cao đẳng ồ ạt mở rộng đào tạo đến cả bậc trung cấp nghề, nhưng hầu hết trang thiết bị của các trường nghề đều rơi vào tình trạng lạc hậu.

Có những trường nghề hiện nay còn dùng các loại máy móc những năm 60 - 70 của thế kỷ 20 được nhập từ các nước Ðông Âu; đội ngũ giáo viên cũng chưa thật sự đủ mạnh để có thể truyền nghề cho học sinh của mình. Từ thực tiễn công tác đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng, chúng ta có thể nhận thấy một nghịch lý tồn tại hiển nhiên "thừa thầy thiếu thợ", chưa kể tâm lý học trung cấp rất khó tìm được việc làm, nếu có thì thu nhập cũng ở mức rất thấp. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng để đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Chính vì vậy, ngày 27/11/2009, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 1956/QĐ-TTg phê duyệt đề án 1956 về “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” nhằm góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông thôn và hoàn thành mục tiêu chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn được xem là "chìa khóa" thành công cho nhiều chương trình, mục tiêu quốc gia. Phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn liền với việc làm, thu nhập và đời sống của người nông dân. Chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế phải đồng nghĩa với trang bị nghề mới và tạo việc làm mới cho người lao động. Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, mục tiêu xây dựng nông thôn mới., chỉ có thể thành công khi lực lượng LĐNT 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vững tâm với nghề nghiệp, với nguồn thu nhập đủ để bảo đảm cuộc sống.

Sau 4 năm thực hiện, đề án 1956 đã mang lại hiệu quả tích cực đối với người dân nông thôn, giúp người dân tìm được việc làm, xóa đói giảm nghèo, góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Hưng Yên là một tỉnh có nhiều khu công nghiệp thu hút lao động tham gia, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả do công nghiệp hóa, hiện đại hóa mang lại, việc phát triển khu công nghiệp địa phương đã làm cho nhiều người dân bị mất đất, mất phương tiện sản xuất. Yêu cầu đào tạo nghề cho người dân để họ tìm kiếm việc làm, chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp của địa phương sang công nghiệp, dịch vụ là một yêu cầu cấp thiết.

Chính vì vậy, khi đề án 1956 của Thủ tướng chính phủ được ban hành, Ủy ban nhân dân tỉnh đã yêu cầu các sở, uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, các tổ chức chính trị - xã hội liên quan theo chức năng, nhiệm vụ của mình cùng tham gia vào công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn để mục đích của đề án đạt được kết quả cao nhất, mang lại hiệu quả thiết thực với người dân. Vậy, việc thực hiện đó được tiến hành như thế nào? Kết quả ra sao? Người dân có hài lòng với các chính sách được hưởng không? Quá trình thực hiện có thuận lợi và khó khăn gì không? Để trả lời những câu hỏi đó tôi lựa chọn đề tài “Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Hưng Yên” làm chủ đề nghiên cứu trong luận văn của mình. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Kể từ khi đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 (Đề án 1956) được ban hành, đào tạo nghề cho lao động nông thôn đang nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương. Đã có một số luận án 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiến sỹ và bài báo bàn về vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn, giúp chúng ta có cái nhìn đa chiều hơn đối với vấn đề này.

Về thực trạng đào tạo nghề cho lao động nói chung và cho lao động nông thôn nói riêng, hiện nay có các công trình nghiên cứu, các bài viết như: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Nguyễn Văn Đại; “Việc làm cho người lao động ở các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam” của Trần Đình Chín; “Đào tạo nghề cho nông dân trong thời kì hội nhập quốc tế” của TS Nguyễn Tiến Dũng – Tổng Cục trưởng Tổng cục dạy nghề, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội; “Đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn nước ta hiện nay” của Nguyễn Việt Quân – tạp chí Cộng sản; “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, 3 năm nhìn lại” của Mai Phương trên Tạp chí Cộng sản. Những công trình nghiên cứu trên cung cấp cho tác giả luận văn một cái nhìn tổng quát về thực trạng việc làm cho lao động nông thôn, nhu cầu đào tạo cũng như giải pháp để thúc đẩy việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Điểm chung của các công trình này đều nêu ra được các vấn đề còn tồn tại trong công các đào tạo nghề: “Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở nước ta chưa được coi trọng đúng mức. Nhiều bộ, ngành, địa phương, cán bộ và xã hội nhận thức chưa đầy đủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, coi đào tạo nghề chỉ là cứu cánh, có tính thời điểm, không phải là vấn đề quan tâm thường xuyên, liên tục và có hệ thống.

Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn còn cầm chừng, chưa có sự vào cuộc quyết liệt của lãnh đạo các cấp, công tác điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu dạy nghề cho lao động nông thôn còn gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, nhiều nông dân chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc đào tạo nghề nên không mặn mà với các trung tâm dạy nghề.” Đây chính là những nguyên nhân khiến cho công tác đào tạo nghề chưa thực sự hiệu quả. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với nghiên cứu “Đào tạo nghề cho nông dân trong thời kì hội nhập quốc tế” Nguyễn Tiến Dũng – Tổng Cục trưởng Tổng cục dạy nghề đã nêu lên những kết quả bước đầu thực hiện đề án 1956. Cũng nói về thực trạng đào tạo nghề, Nguyễn Việt Quân với công trình nghiên cứu“Đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn nước ta hiện nay” đã nêu lên yêu cầu cấp thiết của việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đồng thời dự báo tình hình lao động trong những năm sắp tới.

Cùng với những bài viết của hai tác giả trên, với việc nhìn nhận kết quả thực hiện đề án 1956 trong ba năm từ 2010 đến 2013 với những con số thống kê chính sách, cung cấp cho người đọc một cái nhìn cụ thể về kết quả mà đề án mang lại: “Hoạt động dạy nghề cho nông dân và lao động nông thôn không chỉ huy động các cơ sở chuyên dạy nghề mà còn thu hút được sự tham gia của các viện nghiên cứu, các trường đại học; sự tham gia giảng dạy của những lao động kỹ thuật từ các doanh nghiệp; những nghệ nhân, người có tay nghề cao trong các làng nghề… Bản thân người nông dân và lao động nông thôn là những đối tượng được thụ hưởng chính sách cũng đã tích cực, ủng hộ chủ trương của Chính phủ, từ việc xác định được nhu cầu học nghề của mình phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đến việc tham gia đầy đủ các khóa đào tạo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thực trạng chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Hưng Yên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Hưng Yên. Tài liệu nêu rõ những thách thức mà lao động nông thôn đang phải đối mặt, cũng như những lợi ích mà chính sách đào tạo nghề mang lại, như nâng cao kỹ năng, tăng cường khả năng tìm kiếm việc làm và cải thiện đời sống cho người dân.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ vnua nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện phù cừ tỉnh hưng yên, nơi đề cập đến các biện pháp cải thiện chất lượng đào tạo nghề. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở huyện tây giang tỉnh quảng nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc thực hiện chính sách tại các địa phương khác. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ vnu ued hoàn thiện chính sách tài chính cho đào tạo nghề lao động nông thôn trong giai đoạn hiện nay sẽ cung cấp cái nhìn về các chính sách tài chính hỗ trợ cho đào tạo nghề. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn.