Chương 1 TỔNG QUAN 1. Một số đặc điểm giải phẫu, sinh lý của tử cung và bánh rau 1. Giải phẫu và mô học của tử cung khi chưa có thai TC là một tạng rỗng của cơ quan sinh dục, nằm sau phúc mạc, trong tiểu khung, thông vào ổ phúc mạc qua vòi TC, thông với bên ngoài qua âm đạo. TC có hình nón dẹt, chia thành ba phần: thân, eo và cổ (hình 1.
Buồng tử cung Vòi tử cung Buồng trứng Thân tử cung Cổ tử cung Âm đạo Hình 1.1 Sơ đồ hình tử cung cắt đứng ngang. - Thân TC: hình thang, đáy ở trên, có hai sừng hai bên, dài khoảng 4cm, rộng khoảng 4,5cm. TC lúc không có thai nặng 50 - 60gam, chiều sâu buồng TC đo được 6 - 8cm. - Eo TC: một vòng nhỏ, chiều dài từ 0,5-1cm.
- Cổ TC: là phần thấp nhất của TC, hình trụ bên trong là ống cổ TC. Thay đổi giải phẫu và sinh lý tử cung khi có thai Khi có thai, cơ thể có nhiều thay đổi. Các nội tiết tố ảnh hưởng trực tiếp đến giai đoạn này là estrogen, progesteron và hormon rau thai (Human 4 chorionic gonadotropin). Những thay đổi của nội tiết là nguyên nhân chính dẫn đến những thay đổi về cấu trúc và chức năng của tử cung.
Thân tử cung [3] Là bộ phận thay đổi nhiều nhất khi có thai. Sau khi được thụ tinh, phôi được làm tổ ở nội mạc TC và nội mạc TC biến đổi thành ngoại sản mạc. Tại đây hình thành bánh rau, màng rau, buồng ối để chứa thai nhi ở bên trong. Trong khi chuyển dạ tử cung thay đổi dần để tạo thành ống đẻ cho thai ra.
Cùng với sự lớn lên của thai nhi trong buồng tử cung, thân TC thay đổi về trọng lượng, kích thước, vị trí và tính chất. Trọng lượng: khi có thai trong 3 tháng đầu tử cung phát triển theo chiều trước sau nhiều hơn chiều ngang nên có hình tròn như quả bóng, có thể nắn thấy thành TC qua túi cùng bên âm đạo, đó là dấu hiệu Noble dương tính. Từ tháng thứ 4 trở đi hình thể TC phụ thuộc vào tư thế thai nhi nằm ở bên trong. Vào cuối thời kỳ thai nghén, bình thường TC cân nặng khoảng 1000gam và chiều cao tăng đến 32cm.
Vị trí: khi chưa có thai, tử cung nằm ở đáy chậu trong tiểu khung, khi có thai tử cung lớn dần lên và tiến vào ổ bụng. Tử cung cao dần lên và tiếp xúc với thành bụng trước, đẩy ruột sang bên và lên trên. Cuối cùng đáy TC tiến dần đến gần gan. Khi TC lên cao sẽ kéo giãn dây chằng rộng và dây chằng tròn.
Cấu tạo: tử cung gồm ba phần: thân, eo và cổ. * Thân tử cung: gồm ba lớp từ ngoài vào trong: phúc mạc, cơ và niêm mạc. - Phúc mạc: ở thân TC phúc mạc dính chặt vào lớp cơ. Ở eo TC phúc mạc lỏng lẻo có thể bóc tách dễ dàng ra khỏi lớp cơ TC.
Ranh giới giữa hai vùng là đường bám chặt của phúc mạc. Nhờ tính chất bóc tách được phúc mạc ra khỏi lớp cơ ở đoạn dưới TC, người ta thường MLT ở đoạn dưới TC để có thể che phủ được phúc mạc sau khi đóng kín vết mổ qua lớp cơ TC. - Cơ tử cung gồm 3 lớp: lớp ngoài, lớp giữa và lớp trong. 5 + Lớp ngoài: là lớp cơ dọc.
Lớp này vòng qua đáy TC và kéo dài tới các dây chằng của TC. + Lớp trong: là lớp cơ vòng, nó giống như cơ thắt quanh các lỗ vòi TC và lỗ trong cổ TC. + Giữa hai lớp cơ này là lớp cơ chéo, lớp cơ này phát triển mạnh nhất khi có thai. Khi có thai ở tử cung có hiện tượng tăng sinh cơ TC, tăng giữ nước và phì đại các sợi cơ dẫn đến tăng dung tích tử cung.
Lớp cơ đan dày nhất và phát triển mạnh nhất trong khi có thai, lớp này có nhiều mạch máu. Sau đẻ lớp cơ này co lại thành khối an toàn ép vào các mạch máu gây tắc mạch sinh lí giúp cầm máu. Khi trương lực cơ TC giảm hoặc mất gây ra đờ TC, các mạch máu không được chèn ép sẽ gây chảy máu sau đẻ. * Eo tử cung: khi có thai, eo TC giãn rộng dần, dài và mỏng ra biến thành đoạn dưới TC.
Cho tới khi chuyển dạ, đoạn dưới TC dài khoảng 10cm. Về cấu trúc, đoạn dưới chỉ có hai lớp cơ: cơ vòng ở trong và lớp cơ dọc ở ngoài không có lớp cơ đan ở giữa. Chính vì vậy, đoạn dưới tử cung là phần dễ vỡ nhất trong cuộc đẻ, dễ chảy máu khi có RTĐ vì RTĐ thường kèm theo RCRL ở các mức độ khác nhau. * Niêm mạc tử cung: Niêm mạc TC khi có thai biến đổi dần thành ngoại sản mạc.
Ngoại sản mạc gồm ba phần: ngoại sản mạc trứng, ngoại sản mạc TC và phần phát triển mạnh nhất là ngoại sản mạc TC - rau. Mật độ: khi không có thai, mật độ cơ TC chắc, có tính đàn hồi. Khi có thai TC mềm, các sợi cơ giảm trương lực, mềm đi do tác dụng của progesteron, nhưng khả năng co bóp và co rút của TC tăng lên. Trọng lượng cơ tử cung tăng, lớp cơ tử cung dày nhất là 2,5cm.
Do bản thân sợi cơ phì đại tăng sinh mạch máu bao gồm cả động mạch, tĩnh mạch và mao mạch tăng giữ nước ở cơ TC. Thể tích buồng tử cung tăng. 6 Hình thể tử cung thay đổi. Nếu thai nhi nằm dọc TC có hình trứng, nếu thai nhi nằm ngang TC sẽ bè ngang.
Buồng trứng cũng thay đổi, xung huyết phù to và nặng lên, tĩnh mạch của buồng trứng to lên khi có thai, đường kính từ 0,9cm đến 2,6cm khi thai đủ tháng. Vòi tử cung cũng phì đại, nội mạc vòi TC mỏng hơn, khi TC to vòi TC và buồng trứng cũng lên cao dần trong ổ bụng. Cổ tử cung Cổ TC có hình trụ, dài 2,5cm, rộng 2 - 2,5cm. Có 2 lỗ: lỗ trong và lỗ ngoài.
Âm đạo bám vào cổ TC chếch từ sau ra trước, chia cổ TC thành 2 phần: phần trên âm đạo và phần trong âm đạo. Các tài liệu kinh điển cho rằng càng sinh đẻ nhiều cổ TC càng ngắn, nhưng các tài liệu gần đây lại cho rằng sau sinh đẻ cổ TC thay đổi chủ yếu theo chiều rộng, ít thay đổi chiều dài. Chiều dài cổ TC ổn định vào khoảng 2,5cm. Phần cơ của cổ TC chủ yếu là các thớ cơ dọc, phần lớn từ thân TC đi xuống, chỉ có một ít các thớ cơ từ âm đạo đi lên.
Cổ TC có rất ít cơ bị phân tán trong một mô xơ chun, chỉ có rất ít thớ cơ chạy dọc ở gần ngoại vi. Cấu trúc này làm cho cổ TC có đặc tính ưu việt là rất dễ xóa, mở trong chuyển dạ. Đặc điểm giải phẫu của bánh rau Bình thường bánh rau giống như một cái đĩa tròn úp vào mặt trong buồng TC. Đường kính trung bình của bánh rau là 15cm, chỗ dày nhất ở giữa từ 2 - 3cm, mỏng dần ở vùng rìa bánh rau còn khoảng 0,5cm.
Khi thai đủ tháng trọng lượng bánh rau khoảng 500gam (1/6 trọng lượng thai nhi). Bình thường rau bám ở mặt trước, mặt sau hoặc đáy TC. Nếu rau bám xuống đoạn dưới TC gọi là RTĐ [4]. 7 Bánh rau là do sự kết hợp của ngoại sản mạc (phần ngoại sản mạc TC - rau) và trung sản mạc (vùng trung sản mạc phát triển tại vị trí của ngoại sản mạc TC - rau) hay vị trí rau bám [4].
- Ngoại sản mạc chính là nội mạc TC. Trong trường hợp nạo, hút thai nhiều lần, TC có sẹo mổ cũ, tiền sử RTĐ…) nếu gai rau bám trực tiếp vào cơ TC gây nên RCRL. - Trung sản mạc: có các gai rau phát triển trong hồ huyết. Có hai loại gai rau là gai rau bám và gai rau dinh dưỡng.
Gai rau dinh dưỡng bơi lơ lửng trong hồ huyết có nhiệm vụ lấy các chất dinh dưỡng từ máu mẹ nuôi thai. Gai rau bám thì bám vào vách hoặc nóc hồ huyết vừa có chức năng dinh dưỡng vừa giữ cho bánh rau bám vào TC. Lịch sử cắt tử cung trong và sau đẻ Trong nửa đầu thế kỷ 19 về trước, phẫu thuật cắt TC trong và sau đẻ được coi là một phẫu thuật dũng cảm và cần thiết nhằm giải quyết những trường hợp nhiễm trùng nặng do những tình huống sản khoa phức tạp gây ra. Mãi đến nửa sau của thế kỷ 19, phẫu thuật mới có kết quả.
Trong y văn còn ghi lại trường hợp mổ của Storer tiến hành năm 1868 trên một sản phụ u tiền đạo, chuyển dạ đẻ 3 ngày phẫu thuật kéo dài hơn 3 giờ và sản phụ chết vào ngày thứ 3 sau mổ. Nhưng từ khi có phương pháp khử khuẩn và vô khuẩn tốt, những tiến bộ của gây mê hồi sức và việc tìm ra kháng sinh thì phẫu thuật cắt TC nói chung và phẫu thuật cắt TC trong và sau đẻ nói riêng mới được áp dụng rộng rãi. Cũng nhờ đó mà giảm được tỷ lệ tử vong cho người mẹ vì chảy máu, vì nhiễm khuẩn và vì các tai biến sản khoa khác. Từ đầu thế kỉ thứ 20 và đặc biệt là bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ 20, kể cả ở Việt Nam, sau những năm 50 người ta đã bổ sung các chỉ định và 8 hoàn thiện quy trình cắt tử cung, nhất là cắt TC trong và sau đẻ.
Đó là những trường hợp chảy máu nặng, u tiền đạo, vỡ TC, sau đó là các trường hợp rau tiền đạo, rau bong non, ung thư cổ TC và sau cùng là triệt sản. Ở Hoa Kỳ, từ năm 1930-1945 chỉ định cắt TC chủ yếu là chảy máu, nhiễm khuẩn hoặc u xơ TC. Theo Reis và De. Costa thì trong thời kỳ đó có khoảng 4,54% trường hợp cắt TC trong và sau đẻ với tỷ lệ tử vong 5,2% so với 3,4% MLT.
Nhưng từ khi có ngân hàng máu thì việc phẫu thuật cắt TC trong và sau đẻ được tiến hành rộng rãi hơn. Ở Hoa Kỳ một vấn đề đặt ra trong thực hành sản khoa là chỉ định cắt TC tiếp theo mổ lấy thai và nhiều nơi đã coi là phẫu thuật thay thế cho phẫu thuật thắt 2 vòi TC để triệt sản. Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng phẫu thuật cắt TC được thực hiện cho những bệnh nhân có hoặc nghi có bệnh lý ở TC và thậm chí ở cả những trường hợp TC bình thường trong lúc mổ lấy thai nếu có mong muốn.