Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CÔNG CHỨC 1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về quản lý công chức 1. Khái niệm về công chức và quản lý công chức 1. Khái niệm về công chức Có thể hiểu khái niệm quản lý công chức là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật tác động đến đội ngũ công chức thực hiện nhiệm vụ nhằm đạt được mục tiêu, hiệu quả của cơ quan, tổ chức, đáp ứng yêu cầu của nền hành chính công vụ.
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” Theo khoản 2 Điều 4 của Luật Cán bộ, Công chức năm 2008, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, Công chức và Luật Viên chức năm 2019 [23]. Điều 67 của Luật Cán bộ, công chức 2008, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật CBCC và Luật Viên chức năm 2019 có quy định về cơ quan quản lý công chức như sau: “1. Việc quản lý cán bộ, công chức được thực hiện theo quy định của Luật này, các quy định khác của pháp luật có liên quan, điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công chức.
8 Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công chức. Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về công chức theo phân công, phân cấp của Chính phủ. Ủy ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về công chức theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình thực hiện việc quản lý công chức theo phân cấp của cơ quan có thẩm quyền và theo quy định của Chính phủ.
Theo quy định tại Điểm 2, Điều 2 của Luật số: 77/2015/QH13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cấp huyện bao gồm: “huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương” [21] “Huyện là đơn vị hành chính lãnh thổ trung gian nằm giữa tỉnh và xã. Cấp huyện là một cấp hành chính. Chính quyền địa phương cấp huyện chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của chính quyền địa phương cấp tỉnh và trực tiếp quản lý nhà nước đối với chính quyền địa phương cấp xã. Các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chính là các đơn vị thuộc cơ quan hành chính nhà nước.
Do đó, công chức tại các đơn vị này được gọi là công chức hành chính nhà nước. Chính quyền cấp huyện có vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị - hành chính; là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với cấp cơ sở và Nhân dân; thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa 9 phương theo thẩm quyền được phân cấp, bảo đảm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, được triển khai thực hiện trong cuộc sống.” [21] Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 06/2010/NĐ-CP Quy định những người là công chức của Chính phủ năm 2010 thì công chức trong cơ quan hành chính cấp huyện bao gồm: “- Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong văn phòng Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân; - Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân. Khái niệm về quản lý công chức Theo tác giả Vũ Đình Lộc, “QLCC là quản lý những người hiện đang làm việc thường xuyên, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế của các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở. Hoạt động QLCC bao gồm nhiều nội dung, từ quy hoạch, tuyển dụng cho đến sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng,.
và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công chức phát huy tốt năng lực của mình nhằm đạt mục tiêu đã đề ra của các cơ quan hành chính nhà nước.” [18] Theo tác giả Nguyễn Thanh Tân, “quản lý công chức là việc phân cấp quản lý cho các bộ, ngành và địa phương trong quản lý biên chế công chức, số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập được phân cấp theo quy định của pháp luật” [24] Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Phương, “quản lý công chức là việc thực hiện các nội dung và hướng dẫn, xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách mà 10 nhà nước đề ra, thông qua những nội dung quản lý công chức đó cơ quan có thẩm quyền quản lý chỉ đạo thực hiện những nội dung này” [20] Từ những định nghĩa của các tác giả đưa ra thì có thể hiểu QLCC là một quá trình có cấu trúc rõ ràng, bao gồm nhiều hoạt động như tổ chức công việc, điều hành các hoạt động, giám sát tiến độ và kiểm tra chất lượng của đội ngũ công chức. Mục tiêu chính là đảm bảo rằng những công chức đó thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao và từ đó đóng góp vào sự phát triển bền vững của cơ quan, tổ chức và xã hội nói chung. Nói một cách khác, quản lý công chức đòi hỏi phải phối hợp và chỉ đạo công chức làm việc một cách hiệu quả và có trách nhiệm. Điều này nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu chung đã được đề ra cho tổ chức.
Qua đó, mọi nỗ lực đều hòa quyện vào việc hoàn thành sứ mệnh chung mà tổ chức mong muốn. Mục tiêu của QLCC không khác mục tiêu phát triển nguồn nhân lực của các tổ chức, đó là đều nhằm phát triển nguồn nhân lực có trình độ, đáp ứng yêu cầu của tổ chức. Nói cách khác, “QLCC nhằm mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu của tổ chức (cơ quan nhà nước) để thực hiện mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Qua đó, giúp phát triển đội ngũ công chức thích ứng với yêu cầu của từng giai đoạn xây dựng và hoàn thiện nhà nước, cải cách nền hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức và yêu cầu quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội; tạo cơ hội để công chức phát triển tài năng; bảo đảm việc thực thi công vụ đúng pháp luật nhà nước quy định; xây dựng môi trường làm việc văn hóa, hiệu quả trên cơ sở hợp tác, phối hợp giữa từng cán bộ, công chức trong cơ quan, tổ chức” [19] Như vậy, từ những phân tích được nêu ở trên thì có thể hiểu QLCC cấp huyện là sự can thiệp có mục tiêu của cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện có thẩm quyền đến đội ngũ công chức thông qua thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ công chức; tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng công chức; thực 11 hiện chế độ, chính sách, thi đua, khen thưởng, kỉ luật; thanh tra, kiểm tra,.
theo những nguyên tắc và biện pháp nhất định, nhằm đạt được mục đích quản lý công chức đã đặt ra. Khái niệm pháp luật về quản lý công chức Pháp luật về quản lý công chức là hệ thống các quy tắc ứng xử do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng các văn bản pháp luật để quy định, hướng dẫn và thực hiện các nội dung liên quan tới quản lý công chức một cách thống nhất, đầy đủ đáp ứng các yêu cầu, mục tiêu của nền công vụ Quốc gia. Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2019) thì Chính phủ có thẩm quyền quản lý công chức. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định: “Cơ quan quản lý cán bộ, công chức là cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao thẩm quyền tuyển dụng, bổ nhiệm, nâng ngạch, nâng lương, cho thôi việc, nghỉ hưu, giải quyết chế độ, chính sách và khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức” [23] Theo đó, pháp luật về quản lý công chức là phương tiện quan trọng để đảm bảo đội ngũ cán bộ công chức hoạt động hiệu quả cao và đồng thời bảo đảm quyền lực của Nhà nước.
Chỉ có pháp luật mới tạo ra được sự công bằng, khách quan ngăn chặn được các hành vi sai trái, vụ lợi trong xã hội. Trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay, việc nâng cao hiệu quả vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan không thể xa rời. Những nguyên tắc đặt ra đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức. Pháp luật càng chặt chẽ, càng đầy chỉn chu bao nhiêu thì đạo đức càng được đề cao, đồng thời khả năng điều chỉnh và giáo dục của đạo đức càng được mở rộng và phản ánh một cách toàn diện, tích cực đến mọi hành vi, mọi mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội.
12 Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thể hiện đúng nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với xu thế vận động của lịch sử, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, bắt kịp thời đại của đất nước.