CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 1. CÁC HÌNH THUC THUC HIỆN PHÁP LUẬT VA MOI QUAN HỆ GIỮA CHÚNG VỚI NHAU 1. Các hình thức thực hiện pháp luật “Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy phạm pháp luật dân chủ và nhân đạo. Việc thực hiện chúng chính xác, đầy đủ càng thể hiện tính dan chủ và nhân đạo thực sự của xã hội chúng ta” [40, tr.
Như vậy, thực hiện chính xác, đầy đủ pháp luật xã hội chủ nghĩa không chỉ là mối quan tâm của nhà nước mà còn là nghĩa vụ của mọi người dân trong xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa khi ban hành các quy phạm pháp luật đều mong muốn tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế và mọi công dan luôn luôn tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách day đủ, nghiêm chỉnh, thống nhất, vì mục tiêu: dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Do đó, không phải ban hành thật nhiều các quy phạm pháp luật là được mà phải làm cho những quy phạm pháp luật đó được hiện thực hoá. “Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người phù hợp với những qui định của pháp luật.
Nói cách khác, tất cả những hoạt động nào của con người, của các tổ chức mà phù hợp với qui định của pháp luật thì đều được coi là biểu hiện của việc thực hiện thực tế các quy phạm pháp luật” [40, tr. Như vậy, thực hiện pháp luật là hành vi phải phù hợp với quy phạm pháp luật. Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, hiệu quả điều chỉnh của các quy phạm pháp luật lại phụ thuộc vào hành vi của con người, phụ thuộc vào mức độ phù hợp của hành vi đối với các quy phạm pháp luật.
Dưới góc độ pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp. Hanh vi đó không trái, không vượt quá phạm vi qui định của pháp luật, phù hợp với qui định của pháp luật và các lợi ích cho xã hội, nhà nước và các cá nhân. Hành vi hợp pháp có thể được thực hiện trên cơ sở nhận thức sâu sắc của chủ thể là phải xử sự như vậy (xử sự chủ động), đó là hành vi tự giác. Nhưng cũng có hành vi xử sự do ảnh hưởng của môi trường xung quanh (thụ động) hoặc do có những hành vi hợp pháp được thực hiện do việc áp dụng pháp luật bằng biện pháp cưỡng chế của nhà nước.
Thực hiện pháp luật là quá trình đưa các qui định của pháp luật vào thực tiễn đời sống biến nó thành các hoạt động của các chủ thể pháp luật. Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định bốn hình thức thực hiện pháp luật: tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. - Tuân theo (tuân thủ) pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiểm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm. Các chủ thể pháp luật kiểm chế không thực hiện những hành vi mà pháp luật hình sự, pháp luật hành chính ngăn cấm, tức là tuân theo pháp luật.
Chẳng hạn, các hành khách đi máy bay không mang chất nổ, chất cháy vào máy bay là đã tuân thủ pháp luật. Các hành vi bị cấm được quy định trong các quy phạm pháp luật ngăn cấm. Việc tự kiềm chế để không phạm vào những điều cấm của pháp luật, về thực chất chính là nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan nhà nước và các tổ chức khác. - Thi hành pháp luật (chấp hành pháp luật) là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện những nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành vi tích cực.
Nghĩa vụ pháp lý là sự cần thiết phải xử sự theo quy định bắt buộc của pháp luật nhằm đáp ứng lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân. Những quy phạm pháp luật bắt buộc qui định nghĩa vụ phải thực hiện những hành vi tích cực nhất định để đáp ứng lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân. Bởi vậy, nói thi hành (chấp hành) pháp luật cũng chính là thực hiện các quy phạm pháp luật bắt buộc. Chẳng hạn, người kinh doanh nộp thuế đầy đủ là đã chủ động thi hành pháp luật.
Yêu cầu của pháp luật ở đây là không những phải thực hiện những hành vi bắt buộc mà còn phải thực hiện chúng một cách day đủ. Nói cách khác là phải "làm tròn nghĩa vụ". Thực tế cho thấy, cũng có người thực hiện nghĩa vụ nhưng thực hiện không đầy đủ. Ví dụ: Nguyễn Văn A tự nguyện lên đường làm nghĩa vụ quân sự.
Điều đó là đúng và tốt. Nhưng ở đơn vị quân đội A thường vi pham kỷ luật quân đội và nhiều lần bị thi hành kỷ luật. Như vậy A đã không thực hiện nghĩa vụ quân sự một cách đầy đủ, hay không chấp hành tốt pháp luật. - Sử dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép).
Những quy phạm pháp luật qui định các quyền của cá nhân, cơ quan nhà nước và các tổ chức khác (các quy phạm pháp luật cho phép hay các quy phạm pháp luật trao quyền) được thực hiện ở hình thức này Hình thức này khác với các hình thức trên ở chỗ: chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình, chứ không bị ép buộc phải thực hiện. Chẳng hạn, Luật Hôn nhân và gia đình qui định: nam 20 tuổi, nữ 18 tuổi có quyền kết hôn. Như vậy, các chủ thể pháp luật ở đây có quyền thực hiện kết hôn hay không là tuỳ thuộc vào ý chí của mình mặc dù pháp luật đã cho phép. Đối với hình thức thực hiện pháp luật này, pháp luật yêu cầu phải sử dụng quyền một cách đúng đắn, có nghĩa là chủ thể pháp luật chỉ được thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép và trong phạm vi đã được pháp luật quy định.
Mọi hành vi vượt quá giới hạn cho phép của pháp luật, như lợi dụng quyền hạn để trục lợi hay cố tình gây khó khăn cản trở người khác thực hiện các quyền hợp pháp của họ hay lợi. dụng quyền tự do dân chủ để tố cáo sai sự thật nhằm bôi nhọ danh dự người khác, v. đều là những hành vi vi phạm pháp luật. - Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện những qui định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các qui định của pháp luật tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm đứt những quan hệ pháp luật cụ thể.
Trong trường hợp này các chủ thể pháp luật thực hiện các qui định của pháp luật có sự can thiệp của nhà nước. Nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn có sự tham gia của cơ quan nhà nước thông qua các cơ quan hoặc nhà chức trách có thẩm quyền. Trong áp dụng pháp luật có cả tuân theo pháp luật, chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật. Áp dụng pháp luật là một hình thức rất quan trọng của thực hiện pháp luật nên cần được nghiên cứu riêng.
Quan hệ giữa các hình thức thực hiện pháp luật - Quan hệ giữa tuân thủ pháp luật với các hình thức thực hiện pháp luật. Tuân thủ pháp luật, tức là tự kiểm chế bản thân mình để không phạm vào những điều ngăn cấm của pháp luật, về thực chất, cũng chính là thực hiện nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng pháp luật. Bởi thế cho nên nó tác động tích 10 cực tới chấp hành pháp luật. Điều đó có nghĩa là khi chủ thể pháp luật thực hiện các nghĩa vụ pháp lý bằng hành vi tích cực của mình thì cũng phải tự kiềm chế mình để không trốn tránh nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đến nơi đến chốn.
Ngược lại, hành vi tích cực để thực hiện nghĩa vụ pháp lý cũng góp phần quan trọng để củng cố ý thức pháp luật, giúp chủ thể luôn luôn có thể tự kiểm chế mình để không phạm vào những điều ngăn cấm của pháp luật. Tuân theo pháp luật cũng quan hệ chặt chẽ với sử dụng pháp luật. Trong quá trình sử dụng các quyền pháp lý, chủ thể luôn luôn ở trong nguy cơ có thể vi phạm pháp luật nếu bản thân không có ý thức tự kiểm chế mình. Một khi chủ thể pháp luật tự kiểm chế mình được thì họ sẽ sử dụng đúng quyền, tránh được những hành vi vượt quá giới hạn cho phép của pháp luật.
Đồng thời, việc sử dụng đúng quyền cũng sẽ tác động trở lại đối với ý thức tự kiểm chế của chủ thể, giúp chủ thể hiểu được giá trị thực tế của việc sử dụng đúng quyền, từ đó luôn tự kiểm chế mình không phạm vào những điều ngăn cấm của pháp luật. Tuân thủ pháp luật còn quan hệ mật thiết với áp dụng pháp luật. Sự tự kiểm chế để không phạm vào điều cấm của pháp luật sẽ giúp cho người áp dụng pháp luật tránh được sai lầm, thậm chí là vi phạm pháp luật, để từ đó vận dụng đúng đắn, chính xác các quy phạm pháp luật có sẵn cho từng trường hợp cụ thể, đối với những cá nhân, tổ chức cụ thể. Bên cạnh đó, việc vận dụng đúng dan, chính xác các quy phạm pháp luật có san đó cũng sẽ củng cố ý thức tự kiểm chế của chủ thể áp dụng pháp luật.
- Quan hệ giữa chấp hành pháp luật với các hình thức thực hiện pháp luật khác. Như trên đã phân tích, chấp hành pháp luật quan hệ chặt chẽ với tuân thủ pháp luật. Hành vi tích cực trong việc thực hiện sự cần thiết phải xử sự mà I pháp luật đã quy định cũng là hệ quả của sự tự kiểm chế trong ban than chủ thể, cho dù hành vi đó là hoàn toàn tự giác và có ý thức rõ ràng.