Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 1. Một số vấn đề lý luận về lao động chưa thành niên 1. Khái niệm người chưa thành niên Khái niệm người chưa thành niên được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học khác nhau như tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, luật học.
Tuy nhiên, tùy theo các góc độ, lĩnh vực mà khái niệm này lại được ghi nhận theo cách khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa thành niên là: “đã đến tuổi trưởng thành và được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ” [24]. Theo định nghĩa trên, hiểu chưa thành niên là chưa đến tuổi trưởng thành, chưa được pháp luật công nhân là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ. Về mặt pháp lý, khái niệm người chưa thành niên được quy định và sử dụng trong pháp luật lao động, dân sự, hình sự, hành chính, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự.
Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, được phân thành ba nhóm: (i) Người chưa đủ 6 tuổi; (ii) Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi và (iii) Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam xác định người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Các kết quả nghiên cứu khoa học pháp lý về đặc điểm tâm sinh lý, nhận thức của con người đều đi đến kết luận: Khi đủ 18 tuổi, con người được coi là bắt đầu đạt tới sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý, nhận thức và khi đó được coi là người trưởng thành. Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý, nhận thức của người chưa thành niên, những người đang ở tuổi cận kề với tuổi trưởng thành, ở giai đoạn này, các em đang 11 trong quá trình phát triển về mọi mặt, chưa đủ bản lĩnh và sự chín chắn để có thể chịu đựng, vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
Xét ở khía cạnh này, khái niệm người chưa thành niên có nhiều điểm tương đồng với khái niệm trẻ em. Tuy nhiên, hai khái niệm nêu trên không hoàn toàn thống nhất với nhau. Căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”, do đó khái niệm người chưa thành niên đã bao hàm khái niệm trẻ em hay nói cách khác người chưa thành niên bao gồm trẻ em và người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. Trên thực tế, khi nhắc đến đối tượng những người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi người ta thường dùng khái niệm “người chưa thành niên” nhiều hơn khái niệm “trẻ em”.
Khi nói đến người chưa thành niên là chúng ta muốn nhấn mạnh đến vấn đề năng lực pháp luật và năng lực hành vi của những người này. Đây là khái niệm mang tính pháp lý, thường được ghi nhận trong các văn bản pháp luật. Trong khi đó, khái niệm trẻ em lại được nhắc đến trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trong và ngoài nước cũng như trong các Công ước quốc tế liên quan. Điều đó cho thấy khái niệm trẻ em là khái niệm mang tính xã hội, dễ hiểu, dễ phổ biến, dễ tuyên truyền.
Có lẽ, đây cũng là lý do mà các văn bản pháp luật quốc tế khi đề cập đến nhóm đối tượng này thường sử dụng khái niệm “trẻ em” mà hầu như không đề cập đến khái niệm “người chưa thành niên”. Tổng hợp lại thì có thể hiểu, người chưa thành niên là những người chưa đủ 18 tuổi. Khái niệm người lao động chưa thành niên Trong cuộc sống thì người chưa thành niên cũng tham gia vào quá trình lao động và cũng có thể trở thành người lao động. Trong Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (2009) nêu: “Lao động chưa 12 thành niên là những lao động dưới 18 tuổi, bao gồm hai loại lao động là lao động dưới 15 tuổi và lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi” [21, tr 416].
Khái niệm này có điểm tương đồng với khái niệm được nêu tại Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019, dựa trên cơ sở độ tuổi để xác định phạm vi, đồng thời phân loại thành hai nhóm gồm: (i) Nhóm dưới 15 tuổi và (ii) Nhóm từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, khái niệm này chưa nêu rõ những đặc tính cơ bản làm cơ sở để nhận biết đối tượng người lao động chưa thành niên. Theo tác giả Phan Văn Hùng: “Lao động chưa thành niên là những người chưa thành niên (ở Việt Nam là người dưới 18 tuổi) tham gia hoạt động lao động, có quan hệ lao động (trên cơ sở giao kết hợp đồng lao động) nhằm mục đích tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình” [19, tr17]. Khái niệm trên tương đối dài, trong đó đã giới hạn phạm vi đối tượng (người dưới 18 tuổi), đồng thời xác định phạm vi quan hệ lao động (chỉ gồm người có quan hệ lao động) cũng như chỉ rõ mục đích của đối tượng.
Tuy nhiên, tác giả lại chưa chỉ rõ một đặc tính quan trọng của đối tượng này, đó là khả năng lao động. Người dưới 18 tuổi tham gia hoạt động lao động, có quan hệ lao động (trên cơ sở giao kết hợp đồng lao động) nhưng nếu không có khả năng lao động (ví dụ bị tâm thần) thì quan hệ lao động đó không được pháp luật thừa nhận và đương nhiên người lao động đó không thể coi là người lao động chưa thành niên, một chủ thể trong quan hệ lao động. Theo quy định tại Điều 35 Hiến pháp năm 2013, người chưa thành niên cũng như tất cả công dân Việt Nam có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp và nơi làm việc. Theo Bộ luật Lao động năm 2019 thì người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo một thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành và giám sát của người sử dụng lao động.
Mặt khác, Khoản 1 Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019 cũng quy định người lao động chưa đủ 18 tuổi là người lao động chưa thành niên, ta thấy độ tuổi của người 13 lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi. Từ đó có thể hiểu người lao động chưa thành niên là một nhóm lao động đặc thù, có độ tuổi chưa đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, có giao kết hợp đồng lao động. Tuy nhiên, để trở thành chủ thể trong quan hệ lao động với tư cách người lao động, cá nhân phải thỏa mãn những điều kiện nhất định do pháp luật quy định. Một người chưa thành niên để trở thành người lao động chưa thành niên thì trước hết phải là người lao động mang đầy đủ đặc điểm của người lao động theo quy định tại Bộ luật Lao động 2019: “.là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động.
Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này” [7, Điều 3, Khoản 1]. Như vậy, người lao động nói chung và người người lao động chưa thành niên nói riêng đều phải có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Cụ thể bằng hành vi của bản thân, người lao động chưa thành niên tham gia trực tiếp vào quan hệ lao động, tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động theo Hợp đồng lao động. Chủ thể trong quan hệ hợp đồng phải là người sử dụng lao động và người lao động, hai bên khi giao kết hợp đồng phải tuân thủ theo các quy định về hình thức và nội dung hợp đồng để đảm bảo hợp đồng có hiệu lực.
Bên cạnh đó, khi tham gia quan hệ lao động, trong thời gian lao động, người lao động chưa thành niên phải đặt mình dưới sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động và được hưởng thù lao theo những thỏa thuận trong hợp đồng. Trong pháp luật lao động Việt Nam sử dụng khái niệm “người lao động chưa thành niên”, ghi nhận người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi (Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019). Định nghĩa này cơ bản đã đưa ra độ tuổi để xác định lao động chưa thành niên, đây là những đặc tính, cơ sở 14 mang tính pháp lý để nhận biết lao động chưa thành niên so với người lao động khác. Vì vậy, nguyên tắc chung có thể hiểu mọi lao động dưới 18 tuổi có khả năng lao động, có giao kết hợp đồng lao động là lao động chưa thành niên.
Đặc điểm của lao động chưa thành niên So sánh với người lao động thành niên, có thể thấy người lao động chưa thành niên có một số đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, người lao động chưa thành niên là những người lao động chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần. Đây là nhóm lao động đặc thù, là những người chưa trưởng thành. Khác với người lao động đã trưởng thành là người đã phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần. Do đó, người lao động chưa thành niên chưa thể tham gia đầy đủ vào các quan hệ lao động của đời sống xã hội.
Trước tiên là đặc trưng về sinh lý: dưới độ tuổi 18, là giai đoạn có sự phát triển mang tính đột biến về sinh lý, biểu hiện ở việc các em phát triển nhanh về chiều cao và trọng lượng cơ thể; hệ xương, cơ bắp phát triển mạnh, đặc biệt xương tay, xương chân. Ở giai đoạn này, nếu phải lao động với cường độ quá sức hoặc làm việc nhiều giờ hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với môi trường ảnh hưởng xấu tới sự hình thành và phát triển nhân cách (như làm việc ở trong quán bar, nhà hàng, phòng hát karaoke,.) đều dễ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển cả về thể lực và trí lực của họ. Tiếp đến là đặc trưng về tâm lý: Do sự phát triển vượt bậc về mặt thể chất, nên các em ở lứa tuổi chưa thành niên thường có những biểu hiện về mặt tâm lý khá phức tạp.