CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 1. Quan niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về lao động chưa thành niên: 1. Quan niệm về lao động chưa thành niên: Khái niệm “trẻ em”: Ở nước ta, trong tất cả các bản Hiến pháp từ Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và cho đến Hiến pháp hiện hành năm 2013, quyền trẻ em đều được ghi nhận một cách trang trọng và được quy định một cách cụ thể, rõ ràng. Nhiều bộ luật và luật đã được nghiên cứu, xây dựng, ban hành để thể chế, cụ thể hóa những quy định về quyền của trẻ em, trong đó có Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi bổ sung năm 2018.
Ngay tại Điều 1 của Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi bổ sung năm 2018 đã có quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Thông qua khái niệm này có thể hiểu là tất cả trẻ em dưới 16 tuổi, không phân biệt là công dân Việt Nam hay người có quốc tịch, người không có quốc tịch ở lãnh thổ Việt Nam đều nhận được sự bảo vệ, chăm sóc và giáo dục như nhau. Từ đó, có thể nhận thấy một điều rằng hệ thống pháp luật Việt Nam đã có những sự điều chỉnh, bổ sung để trở nên phù hợp hơn, hài hòa hơn với hệ thống pháp luật quốc tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay. Khái niệm “vị thành niên”: Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm vị thành niên và chưa có một khái niệm chung, mang tính thống nhất dành cho khái niệm vị thành niên.
Độ tuổi chưa thành niên theo như quy định của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được xác định là độ tuổi 10-19 tuổi. Thanh niên trẻ là lứa tuổi từ 14-19 tuổi. 9 Xét về mặt xã hội, vị thành niên là người chưa đến độ tuổi được pháp luật coi là đủ khả năng để sử dụng quyền, thực hiện nghĩa vụ và tự chịu trách nhiệm cho các hành vi mà mình thực hiện. Ở nước ta, vị thành niên được xác định là lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi.
Thanh niên là từ 19 đến 24 tuổi. Trẻ em là người dưới 16 tuổi. Còn xét về mặt luật pháp vị thành niên là người dưới 18 tuổi. Khái niệm “người chưa thành niên”: Trong Công ước Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 đã có quy định: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Công ước đã công nhận các quyền trẻ em cũng như yêu cầu các quốc gia trên thế giới phải dành sự tôn trọng và bảo đảm việc thực hiện quyền trẻ em nhằm hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn nữa dành cho trẻ em. Ở nước ta, độ tuổi của người chưa thành niên được quy định rõ ràng và thống nhất từ Hiến pháp, Bộ Luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự cho đến Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Lao động và một số văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều xác định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và đối với từng ngành luật cụ thể thì sẽ có quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên. Nói một cách khái quát khái niệm người chưa thành niên có thể được hiểu như sau: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một công dân, chưa có sự phát triển đầy đủ, toàn diện cả về mặt thể lực lẫn mặt trí lực, có khả năng tham gia vào các quan hệ pháp luật ở các vai trò chủ thể khác nhau như quan hệ pháp luật hình sự, quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật lao động,… Khái niệm “lao động chưa thành niên”: 10 Pháp luật quốc tế, trong đó chủ yếu là các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), chỉ sử dụng thuật ngữ “lao động trẻ em” mà không sử dụng thuật ngữ “người lao động chưa thành niên”.
Công ước số 182 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (năm 1999), của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), tại Điều 2 đưa ra khái niệm về trẻ em là người dưới 18 tuổi. Ở Việt Nam, trong Bộ luật Lao động năm 2019 có quy định: “Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi”, bao gồm: người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi và người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi và người chưa đủ 13 tuổi. Quy định này cho thấy sự hài hòa, phù hợp và thống nhất với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 trong việc xác định độ tuổi, năng lực chủ thể và trách nhiệm của chủ thể, từ đó có thể giúp xác định phạm vi công việc mà người lao động chưa thành niên có thể tham gia, điều kiện đảm bảo và phương hướng, cách thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động chưa thành niên trong các mối quan hệ lao động. Tóm lại, chúng ta có thể hiểu lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, có khả năng tham gia vào các quan hệ lao động, làm việc theo hợp đồng lao động đã được ký kết với người sử dụng lao động, được trả lương theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng đã được ký kết và chịu sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động.
Đặc điểm của lao động chưa thành niên: Thứ nhất, lao động chưa thành niên là những người có độ tuổi dưới 18 tuổi. Ở lứa tuổi này, nhóm đối tượng lao động đặc biệt này tuy đã có những sự phát triển vượt bậc về mặt thể chất nhưng lại chưa có được sự ổn định về mặt tâm sinh lý. Tâm sinh lý phức tạp của người lao động ở lứa tuổi này là một vấn đề đáng lo ngại khi họ bắt đầu mở rộng việc sinh hoạt, giao tiếp với xã hội, không phải chịu sự quản lý chặt chẽ từ gia đình. Nếu không có sự uốn nắn, giáo 11 dục kịp thời, người lao động chưa thành niên với tâm sinh lý phức tạp, chưa ổn định của mình sẽ rất dễ gây ra những tác động tiêu cực đến khả năng tìm kiếm việc làm, năng suất lao động, thậm chí là sự hình thành về tính cách sau này.
Thứ hai, người lao động chưa thành niên được pháp luật bảo vệ ở mức độ cao hơn so với người lao động thành niên. Điều này xuất phát từ sự chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất, tinh thần của người lao động chưa thành niên nên khi họ tham gia vào quan hệ pháp luật lao động, pháp luật sẽ bảo vệ họ theo hướng ưu tiên hơn trong việc được hưởng một số quyền ngang bằng hoặc hơn những quyền, lợi ích mà pháp luật quy định dành cho người lao động thành niên. Hơn nữa, pháp luật cũng có các quy định đặc biệt nhằm bảo vệ lao động chưa thành niên khỏi những hình thức lạm dụng, bóc lột sức lao động, hạn chế họ tham gia vào các công việc nguy hiểm, có hại cho sức khỏe hoặc ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của họ. Thứ ba, người lao động chưa thành niên là người có sự hạn chế năng lực hành vi khi giao kết hợp đồng lao động.
Tại Điều 20, 21 Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định: người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuồi khi tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Người chưa đủ sáu tuổi khi tham gia giao dịch dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Yêu cầu về người đại diện dành cho người chưa thành niên trong pháp luật dân sự cũng tương tự như trong pháp luật lao động. Theo đó, người lao động chưa thành niên khi giao kết hợp đồng lao động cần phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật.
Quan niệm pháp luật về lao động chưa thành niên: Những quy định của pháp luật về lao động chưa thành niên đã được ghi nhận một cách rõ ràng, cụ thể cả ở trong pháp luật quốc gia lẫn pháp luật quốc tế. Xét một cách khái quát nhất, sự điều chỉnh của pháp luật về lao động chưa 12 thành niên là một bộ phận của sự điều chỉnh pháp luật nói chung, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và được đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến người lao động chưa thành niên. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với lao động chưa thành niên giúp xác định chính xác địa vị pháp lý của lao động chưa thành niên. Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm nhiều ngành luật khác nhau, có đối tượng điều chỉnh là các nhóm quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Người lao động chưa thành niên với tư cách là một chủ thể pháp luật, các quan hệ xã hội về người lao động chưa thành niên cũng là một trong những đối tượng điều chỉnh thuộc phạm vi đối tượng điều chỉnh của các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật nước ta. Các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm: Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Dân sự, Luật Hình sự,… đều bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động chưa thành niên theo một phương pháp và đặc thù riêng biệt theo ngành luật của mình. Bất cứ một ngành luật nào cũng coi trẻ em nói chung và người chưa thành niên nói riêng là một chủ thể pháp luật đặc biệt và có những quy định dành riêng cho người lao động chưa thành niên. Đặc điểm pháp luật về lao động chưa thành niên: Thứ nhất, độ tuổi tối thiểu để người lao động chưa thành niên tham gia vào quan hệ pháp luật lao động là 13 tuổi.
Tuy nhiên, có một số ngoại lệ người lao động chưa thành niên dưới 13 tuổi được chấp nhận tham gia các hoạt động lao động nhẹ nhàng, không gây nguy hiểm cho sức khỏe, được quản lý bởi các quy định cụ thể. Thứ hai, giới hạn giờ làm việc dành cho người lao động chưa thành niên. Theo quy định của Bộ luật lao động, người lao động chưa thành niên không được làm việc quá 8 giờ mỗi ngày và 40 giờ mỗi tuần.