Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ 1.1 Khái niệm lao động nữ và quyền của lao động nữ 1.1 Khái niệm lao động nữ NLĐ là lực lượng về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Trong đó, nữ giới tham gia vào lực lượng lao động ngày càng nhiều và thường làm trong nhiều lĩnh vực khác nhau hơn là nam giới. Mặt khác, do cầu về lao động tăng bền vững trong thời kỳ tăng trưởng nhanh cũng đã thu hút một lượng lớn phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động. LĐN mang những đặc tính về sức khỏe, tâm sinh lý riêng mà chỉ bản thân họ mới có, điều đó tạo nên sự khác biệt giữa lao động nam và LĐN, do đó pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật lao động các nước nói riêng luôn có những cơ chế, chính sách phù hợp để đảm bảo đầy đủ nhất quyền lợi cho nhóm lao động đặc thù này.
Như vậy, có thể xem xét khái niệm LĐN dưới các góc độ sau: Thứ nhất, xét về mặt sinh học LĐN là NLĐ có “giới tính nữ”. Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một ngườihay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở. Như vậy, sự xác định giới tính là đặc điểm riêng biệt nhất để phân biệt nam và nữ, chỉ có người phụ nữ mới có thiên chức làm mẹ, có khả năng mang thai và sinh con. Thứ hai, xét về mặt pháp lý thì LĐN là “người lao động”, là người làm công ăn lương.
Về mặt bản chất, người LĐN khi tham gia quan hệ lao động được xác định là NLĐ khi họ có đầy đủ năng lực chủ thể của NLĐ, nghĩa là họ có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Năng lực pháp luật lao động là khả năng mà pháp luật quy định hay ghi nhận cho họ có quyền được làm việc, được trả công và được thực hiện những nghĩa vụ của NLĐ. Năng lực hành vi lao động là khả năng của cá nhân bằng chính hành vi của mình trực tiếp tham gia quan hệ lao động, 8 tự hoàn thành mọi nhiệm vụ, gánh vác nghĩa vụ và hưởng quyền lợi của NLĐ. Ngoài ra, nữ giới còn có những đặc điểm riêng biệt về giới như sức khỏe và thiên chức của mình.
Như quy luật vốn có của tự nhiên, phụ nữ khi sinh ra đã có sức khỏe yếu hơn nam giới, nữ giới gặp nhiều trở ngại về sức khỏe, khả năng mang vác vật nặng so với nam giới. Nữ giới còn có thiên chức thiêng liêng đó là làm mẹ. Khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ, người phụ nữ sẽ phải chịu nhiều những thay đổi về cơ thể, tâm lý cũng như khả năng lao động làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm sinh lý của họ. Do đó, khái niệm về LĐN có thể hiểu như sau: người LĐN là NLĐ có giới tính nữ, có khả năng lao động, làm việc theo Hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ.2 Quyền của lao động nữ Bảo vệ quyền của lao động nữ là việc pháp luật lao động ghi nhận các quyền của lao động nữ trong quan hệ lao động và các biện pháp đảm bảo việc thực hiện các quyền của lao động nữ.
Con người là vốn quý nhất của mọi xã hội. Vì vậy, con người phải luôn luôn được bảo vệ. Mục tiêu tối thượng của mọi xã hội là bảo vệ quyền được sống, được lao động và được hưởng thụ lành mạnh của con người. Song, do những hoàn cảnh khác nhau về tố chất, hoàn cảnh sống của từng người, do sự phát triển không đều của nền kinh tế, xã hội loài người lại phân hoá thành kẻ giàu, người nghèo.
Một bộ phận nắm giữ của cải xã hội và các tư liệu sản xuất, đó là những người chủ. Một bộ phận khác chỉ có sức lao động, phải đi bán sức lao động để kiếm sống – đó là những lao động làm thuê. Trong hai bộ phận ấy, những người lao động làm thuê ở thế yếu hơn. Vì vậy, họ cần được bảo vệ thường xuyên hơn, đầy đủ hơn.
Đó là đạo lý tất yếu ở bất kỳ xã hội nào. NLĐ dù là nam hay nữ đều được pháp luật ở mỗi quốc gia bảo vệ dưới góc độ quyền công dân và được pháp luật quốc tế công nhận và đảm bảo. Ủy ban Quyền con người của Liên Hợp quốc đã có sự phân chia nhóm quyền con người trong lĩnh vực lao động thuộc nhóm quyền dân sự và dưới góc độ pháp luật lao 9 động “Quyền của người lao động phải được bảo đảm như quyền con người” [13, tr. Để bảo vệ quyền của LĐN, đã có nhiều văn kiện, công ước quốc tế ra đời.
Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền năm 1948 cũng đã ghi nhận những quyền cơ bản, tôn trọng quyền tự do cũng như quyền bình đẳng nam nữ. Theo Điều 23, 24 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền thì quyền con người trong pháp luật lao động bao gồm: quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn việc làm phù hợp, quyền được bảo vệ chống thất nghiệp, quyền được hưởng lương bằng nhau, quyền được nghỉ ngơi… Sau khi trở thành thành viên Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 1994 Việt Nam đã gia nhập nhiều công ước của tổ chức này. Năm 1998, ILO thông qua Tuyên bố về các quyền cơ bản của NLĐ tại nơi làm việc. Theo đó NLĐ có các quyền cơ bản sau: (1) Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của NLĐ và người sử dụng lao động (theo Công ước số 87 và số 98 của ILO); (2) Xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc (theo Công ước số 29 và số 105 của ILO); (3) Cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (theo Công ước số 138 và Công ước số 182 của ILO); (4) Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp (theo Công ước số 100 và số 111 của ILO).
Theo Tuyên bố năm 1998 của ILO thì các nước thành viên ILO dù đã phê chuẩn hay chưa phê chuẩn các công ước cơ bản nêu trên đều có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện bốn tiêu chuẩn lao động được đề cập trong các công ước đó. Công ước quốc tế về các quyền chính trị, xã hội, văn hóa năm 1966 của Liên Hợp Quốc quy định việc nam nữ có quyền bình đẳng trong mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội; Công ước này có sự ưu tiên đối với các bà mẹ trong thời gian sinh con bởi đây là thời gian mà các bà mẹ cần phải được nghỉ ngơi có hưởng lương và các chế độ phúc lợi khác. Điển hình nhất về bảo vệ quyền LĐN là Công ước CEDAW 1979 - Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ. Nội dung cơ bản của công ước CEDAW là đề cập tới việc bảo vệ quyền lợi của LĐN trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ nhằm xây dựng một chương trình hành động thúc 10 đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ… Trên bình diện thế giới, quyền của LĐN được thể hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên trong pháp luật lao động thì quyền của LĐN là quyền được pháp luật ghi nhận trong mối quan hệ với NSDLĐ.
Sở dĩ, có thể khẳng định như vậy là bởi quan hệ lao động là toàn bộ những quan hệ có liên quan đến quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia trong quá trình lao động, được hình thành trên cơ sở sự tham gia của hai đối tượng là NLĐ và NSDLĐ. Bởi vậy, nhìn một cách tổng quát việc bảo vệ quyền của LĐN trong pháp luật lao động cũng là bảo vệ trong mối quan hệ với NSDLĐ. Xét về tương quan mối quan hệ giữa LĐN và NSDLĐ có thể thấy, người LĐN nói riêng thường ở vị thế yếu hơn so với NSDLĐ, họ bị phụ thuộc rất nhiều vào NSDLĐ. Một mặt, LĐN là người trực tiếp tiến hành và thực hiện các hoạt động sản xuất nên phải đối mặt với các rủi ro xảy ra trong quá trình lao động, họ lại chiếm số đông và được xác định là lực lượng sản xuất, một trong những yếu tố quan trọng của quan hệ sản xuất.
Còn NSDLĐ ở vị thế cao hơn, họ lại có quyền quản lý điều hành NLĐ [8, tr. Bảo vệ quyền của LĐN trong pháp luật lao động thường tập trung vào các vấn đề như: Quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử; Quyền đảm bảo lợi ích trong thời gian LĐN mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; Quyền đảm bảo điều kiện làm việc; Quyền đảm bảo trong lĩnh vực tiền lương; Quyền đảm bảo về tuổi nghỉ hưu.3 Sự cần thiết đối với việc bảo vệ quyền của lao động nữ Xã hội ngày càng phát triển thì phụ nữ càng khẳng định được vai trò của mình, LĐN đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội. LĐN luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là trong lĩnh vực hoạt động vật chất, LĐN là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người, LĐN còn “sản xuất” ra bản thân con người để duy trì và phát triển xã hội. Ngoài ra, nền văn hóa dân gian của bất kì đất nước hay dân tộc nào cũng có sự tham gia của đông đảo phụ nữ bằng nhiều hình thức khác nhau.
Tuy nhiên, ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động như nam giới thì LĐN còn phải đảm 11 nhận chức năng làm mẹ nên có những đặc điểm riêng về sức khỏe, tâm sinh lý, do đó việc bảo vệ quyền của LĐN là hết sức cần thiết, điều này xuất phát từ những lý do sau đây: Xét về thể lực, do những đặc thù không thể thay đổi về cấu trúc cơ thể, so với lao động nam thì LĐN thường gặp nhiều trở ngại về sức khoẻ, cũng như độ dẻo dai do những ảnh hưởng của giới tính, điều này vô hình chung đã hạn chế quyền được tham gia lao động bình đẳng với nam giới.