phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chương Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận về quyền của lao động nữ Chƣơng 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền của lao động nữ Chƣơng 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền của lao động nữ 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Có thể nói đề tài về phụ nữ đặc biệt là lao động nữ thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà tâm lý, nhà luật học, nhà xã hội học.Cho đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu, sách, báo, tạp chí đề cập đến một vấn đề, một khía cạnh liên quan đến quyền và bảo vệ quyền của người lao động nữ ở các góc độ tiếp cận khác nhau. Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, các công trình của các tác giả trong và ngoài nước, cần khái quát đánh giá và phân tích các công trình nghiên cứu có liên quan thành các nhóm sẽ giúp cho luận án tránh được sự trùng lặp về góc độ tiếp cận cũng như nội dung. Tình hình nghiên cứu đề tài 1. Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề chung về ngƣời lao động, lao động nữ, quyền của lao động nữ, cơ chế bảo đảm bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động nữ Về người lao động: Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Thị Kim Phụng, Pháp luật lao động với vấn đề bảo vệ người lao động trong điều kiện kinh tế thị trường (2006) đã đưa ra quan niệm người lao động hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả những người thuộc giới lao động trong xã hội; theo nghĩa hẹp là người làm công cho các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức, cá nhân gia đình trên cơ sở hợp đồng lao động.
Trong phạm vi luật lao động, tác giả đồng ý với thuật ngữ người lao động hiểu theo nghĩa hẹp. Về lao động nữ: Luận văn Thạc sĩ Luật học của Bùi Quang Hiệp, Bảo vệ quyền lợi lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam (2007) đã nêu: Lao động nữ được hiểu là người lao động có giới tính nữ, chính sự khác biệt về giới mà lao động nữ có những đặc tính riêng biệt so với lao động nam. Tính đặc thù của lao động nữ xét theo những yếu tố sinh học đó là những đặc điểm về tâm sinh lý và thể lực khác nam giới. 8 Về đặc điểm vai trò của lao động nữ: Jayati Ghosh (2012), Women, Labor, and Capital Accumulation in Asia đã phân tích và đưa ra các bằng chứng về việc nam giới người chồng, người cha làm trụ cột gia đình, người vợ, người mẹ chủ yếu xử lý các công việc nội trợ, gia đình.
Nó đã đẩy đến cuộc đấu tranh kéo dài và huy động kiên quyết để tạo ra sự thừa nhận của xã hội lớn hơn về vai trò của phụ nữ là lao động hưởng lương theo các hình thức khác nhau, để mang lại ý nghĩa kinh tế quan trọng của hộ gia đình không được trả lương và công việc dựa vào cộng đồng. Harvard Business School (2011), Gender and Corporate Social Responsibility: It’s a Matter of Sustainability: Cũng cho rằng khi phụ nữ tham gia lao động và nắm vai trò lãnh đạo doanh nghiệp thì những đóng góp của họ cũng tốt hơn doanh nghiệp chỉ toàn lãnh đạo nam. Bùi Quang Hiệp trong Luận văn Thạc sĩ cho rằng vai trò cơ bản của lao động nữ gồm: vai trò tái sản xuất, vai trò sản xuất, vai trò cộng đồng. Phụ nữ, giới và phát triển (2000), Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội của tác giả Trần Thị Vân Anh - Lê Ngọc Hùng khi bàn về phụ nữ là bàn về người yếu thế, ngoài ra tác giả nêu những biểu hiện, những xu hướng biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình có liên quan đến phụ nữ.
Có nhiều cuộc Hội thảo khoa học ở các Trung tâm nghiên cứu về phụ nữ không nêu trực tiếp đến lao động nữ nhưng có đề cập các khía cạnh khác nhau về vai trò của phụ nữ như Bùi Thị Tỉnh (2010), Phụ nữ và giới, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội; Trung tâm nghiên cứu lao động nữ và giới thuộc Viện khoa học lao động và xã hội phối hợp với tổ chức lao động quốc tế ILO (2003), Bình đẳng lao động và Bảo trợ xã hội cho phụ nữ và nam giới ở khu vực kinh tế chính thức và không chính thức- Những phát hiện phục vụ và xây dựng chính sách, Nhà xuất bản lao động- xã hội; Trung tâm nghiên cứu khoa học lao động nữ- Văn phòng lao động quốc tế Giơnevơ (2010), Quyền lao động nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Dự án đa quốc gia, Bộ tài liệu tập huấn, tập 2; TS. Nguyễn Hiền Phương (2014), Bảo vệ quyền làm mẹ trong pháp luật lao động và bảo hiểm xã hội, Tạp chí luật học số 6 tr.48-59; Cơ thể của chúng ta- bản thân chúng ta- Những yếu tố tác động đến sức khỏe và cuộc sống của phụ nữ, Nhà xuất 9 bản thế giới (2015)…Những công trình trên phản ánh những thay đổi về vai trò của phụ nữ trong gia đình, bước đầu có những kiến nghị nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong gia đình, trong công cuộc đổi mới. Về quyền lao động: Tại Giáo trình giảng dạy sau đại học về Quyền con người của Nhà xuất bản khoa học xã hội năm 2011do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên thì quyền con người gắn chặt với hoạt động xã hội, các mối quan hệ xã hội và các phương thức sống của cá nhân. Quyền con người là biểu hiện của tiêu chí tác động qua lại, củng cố các mối liên hệ, phối hợp hành động và hoạt động giữa con người với con người, ngăn ngừa các mâu thuẫn đối đầu và xung đột giữa họ trên cơ sở kết hợp tự do cá nhân với tự do của người khác với hoạt động bình thường của Nhà nước và xã hội.
Những quyền được sống, được tôn trọng, danh dự nhân phẩm, được bất khả xâm phạm về thân thể, được tự do ngôn luận, tự do chính kiến, tự do tín ngưỡng, được tham gia vào các quá trình chính trị là những điều kiện cần thiết để con người tổ chức đời sống trong xã hội văn minh và cần phải được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ một cách vô điều kiện. Lao động là một hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội. Lao động có năng suất chất lượng hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội. Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân.
Cũng tại cuốn Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền kinh tế, văn hóa và xã hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2011) GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nhà xuất bản khoa học xã hội thì quyền lao động kết hợp chặt chẽ với nghĩa vụ lao động; đó là sự kết hợp hài hòa những yêu cầu của cuộc sống xã hội với nhu cầu của cuộc sống cá nhân. Giống như các quyền con người khác, quyền lao động là quyền của cá nhân con người. Quyền này có từ khi con người có đủ khả năng và điều kiện lao động, thậm chí từ khi con người biết lao động. Quyền lao động là một trong những quyền gắn liền với sự tồn tại của con người, muốn tồn tại con người phải lao động.
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành quản lý hành chính công của Huỳnh Văn Tịnh Một số giải pháp bảo đảm thực thi quyền của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai) năm 10 2004 đã đưa ra khái niệm về quyền của người lao động khi tham gia quan hệ lao động xuất phát từ quyền lao động. Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân được các quốc gia ghi nhận trong Hiến pháp. Quyền lao động biểu hiện ở quyền của người lao động được làm việc, tự do lựa chọn nghề nghiệp, công việc thích hợp, được giao kết hợp đồng với người sử dụng lao động và được hưởng lương phù hợp với năng suất, chất lượng lao động (không thấp hơn mức lương tối thiểu), được bảo đảm các điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh và được bảo đảm vật chất tạm thời hay khi hoàn toàn mất sức lao động. Tác giả Bùi Quang Hiệp trong Luận văn Thạc sĩ Luật học năm 2007, Bảo vệ quyền lợi lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam nhận định quyền của lao động nữ là sự cụ thể hóa quyền lao động đối với giới nữ căn cứ vào các yếu tố đặc thù về giới.
Quyền của lao động nữ là một bộ phận cấu thành và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các quyền của con người và được thừa nhận như là một giá trị xã hội, được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện. …Luận án Tiến sĩ Luật học Pháp luật lao động với vấn đề bảo vệ người lao động trong điều kiện kinh tế thị trường (2006) tác giả Nguyễn Thị Kim Phụng nêu nội dung quyền của người lao động là được ghi nhận có việc làm, có thu nhập và được bảo vệ về nhân thân. Đối với lao động nữ thì quyền làm việc và giữ được việc làm ổn định phải được đảm bảo bình đẳng với lao động nam. Một số bài báo, tạp chí, sách, báo như: TS.
Lê Mai Anh (2004), Thực hiện quyền bình đẳng cơ bản của phụ nữ theo CEDAW tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí luật học; TS. Nguyễn Thị Thu Hà (2013), Định hướng giá trị việc làm và tính năng động trong công việc của lao động nữ, Tạp chí tâm lý học số 12; Bùi Huyền (2011), Trao đổi về quyền của lao động nữ trong các doanh nghiệp, Tạp chí dân chủ và pháp luật số 10… đề cập một số quyền cụ thể của lao động nữ như: quyền bình đẳng về cơ hội lựa chọn việc làm, quyền bình đẳng về thu nhập, quyền hưởng an sinh xã hội… Theo Đào Ngọc Nga tại Luận văn Thạc sĩ Quản lý Nhà nước về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động- xã hội năm 2011 thì do đặc điểm khác biệt giữa nam và nữ nên đặc trưng cơ bản của quyền lao động nữ là lao động nam, lao động 11 nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.