Chương 1.Co sở lý luận về lao động chưa thành niên và pháp luật về bảo vệ lao động chưa thành niên.Thực trạng pháp luật về bảo vệ lao động chưa thành niên và thực tiễn thi hành.Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả pháp luật về bảo vệ lao động chưa thành niên ở Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE LAO DONG CHƯA THÀNH NIÊN VÀ PHÁP LUẬT VE BẢO VỆ LAO ĐỘNG CHUA THÀNH NIÊN 1. Khái quát chung về lao động chưa thành niên 1. Khái niệm người chưa thành niên Khái niệm người chưa thành niên được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học khác nhau như tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, luật học.
Tuy nhiên, tùy theo các góc độ, lĩnh vực mà khái niệm này lại được ghi nhận theo những cách khác nhau. Theo nha tâm lý học G. Stanley Hall, thời kỳ chưa thành niên là thời kỳ trẻ em chuyên lên người lớn và là thời kỳ gắn liền với những xung đột, xáo trộn tâm trạng, nó cũng được quan niệm đồng nghĩa với tuổi đang lớn hoặc đang trưởng thành. Quá trình phát triển của một đứa trẻ từ khi sinh ra đến khi trưởng thành được các nhà khoa học phân chia thành các giai đoạn khác nhau, trong đó có giai đoạn chưa thành niên, nhưng việc xac định cụ thể thời điểm bắt đầu, kết thúc tuổi chưa thành niên còn có nhiều ý kiến khác nhau, cụ thé: tuổi chưa thành niên từ 14 — 17 tuổi; 11 - 15 tuổi; 12— 15 tuổi; hoặc nam là từ 14 — 16 tuổi, nữ là từ 11 — 13 tuổi; hoặc nam là từ 12 - 17 tuổi, nữ là từ 12 — 15 tuổi.
Tuỳ thuộc vào cách tiếp cận cũng như đặc thù của mỗi chuyên ngành mà người chưa thành niên được hiểu và giải thích theo những cách thức riêng. Các nhà luật học sử dụng thuật ngữ “người chưa thành niên” dé nhấn mạnh tới những giới hạn về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý đối với đối tượng đặc thù này, thông qua đó để có những quy định cụ thể, phù hợp nhăm phân biệt với những nhóm đối tượng khác. Với tính chất như vậy, người chưa thành niên có thé gồm tat cả những người dưới 18 tuổi (hoặc trên dưới một độ tuổi nhất định), nhóm tuổi về cơ bản chưa phải chịu hoặc chịu một phan trách nhiệm pháp lý đối với hành vi của mình hoặc bị giới hạn về một sô quyên và nghĩa vụ. Điêu này có thê thây rõ trong các văn bản pháp luật quốc tế, ở đó thường lấy mốc dưới 18 tuổi dé chỉ những người chưa thành niên và độ tudi này có thé thay đổi tuỳ theo hệ thông pháp luật của các quốc gia.
Tại điểm 2 của Bản quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 29/11/1985 nêu rõ “người chưa thành niên là trẻ em hay người trẻ tuổi” (A juvenile is a child or young person). Còn trong Bản quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990, tại Mục II, điểm 11 (a) quy định “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyên tự do của người chưa thành niên”. Như vậy, khi đưa ra khái niệm người chưa thành niên, pháp luật quốc tế không dựa hoàn toàn, trực tiếp vào đặc điểm tâm, sinh lý hay sự phát triển thể chat, tinh than.ma trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác định độ tuôi.
Cụ thể, người chưa thành niên có giới hạn là người dưới 18 tuổi. Ở góc độ ngôn ngữ học, một số từ điển thông dụng cũng lay 18 tuổi là giới hạn tối đa để xác định khái niệm người chưa thành niên. Từ điển Longman Dictionary of Business English của J.Adam định nghĩa “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”'. Tương tự, trong Từ điển Black“s Law Dictionary của Bryan.Garner định nghĩa: người chưa thành niên là trẻ em và trẻ em là người dưới 18 tuổi”.
Từ việc lựa chọn phương pháp tính tuôi thời gian làm cơ sở cho việc xác định người chưa thành niên đến việc xác định giới hạn độ tuôi tối da hay tôi thiểu của người chưa thành niên của mỗi chuyên ngành trong các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá khác nhau ta thấy một đặc trưng chung của người chưa thành niên là người chưa trưởng thành, ' J.Adam, Longman Dictionary of Business English, BSc(ECON) London, Librairie du Liban.Garner, Black’s Law Dictionary, Second edition, AThomson Company 10 chưa phát triển đầy đủ về mặt thé chat, tinh thần và đa số các quan điểm lấy giới hạn độ tuổi tối đa là 18 tuổi. Như vậy, theo cách hiểu thông dụng có thé đưa ra khái niệm: “Người chưa thành niên là những người dưới 18 tuổi theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam”. Khái niệm trẻ em Trẻ em Theo Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em: “Trẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ phi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn” Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt nam quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Mặt khác, Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em (1989) quy định: “trẻ em được hiểu là những người dưới 18 tuổi ngoại trừ luật pháp quy định độ tuôi sớm hơn với trẻ em, người chưa thành niên”.
Điều 2 Luật Bảo vệ trẻ em của Cộng hoà Estonia (1992); phần 1, điểm 2 Luật Trẻ em của Malaysia (2001) quy định: “trẻ em là người dưới 18 tuổi”. Ngoài ra, như đã nêu ở trên, trong Bản quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên và Từ điển Black's Law Dictionary đều đồng nhất hai khái niệm “người chưa thành niên” và “trẻ em”. Điều này cho thấy, trong những lĩnh vực, hoàn cảnh nhất định, khái niệm “người chưa thành niên” và “trẻ em“ có thể thống nhất về mặt nội hàm và được pháp luật quốc tế, cũng như nhiều quốc gia sử dụng thông nhất. Chính vì vậy, thuật ngữ “trẻ em” hay “người chưa thành niên” có thé hiểu là đồng nghĩa.
Như vậy, tré em là người dưới 18 tuổi theo pháp luật quốc tế, người dưới 16 tuổi theo pháp luật Việt Nam. Khái niệm người lao động chưa thành niên II Pháp luật quốc tế, chủ yếu là các Công ước của Tổ chức lao động quốc tế, không sử dụng thuật ngữ “người lao động chưa thành niên” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “lao động trẻ em”. Ở Việt Nam, những người chưa phát triển day đủ về thé chat, tinh thần nhưng tham gia lao động là hiện tượng phổ biến và được nhà nước thừa nhận. Điều này có thé thấy thông qua những quy định trong những văn bản pháp luật từ khi nước ta giành độc lập đến khi Bộ Luật lao động được ban hành năm 1994.
Các văn bản có thể kế đến như Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định những giao dịch về việc làm công giữa các chủ tư nhân Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm việc tại các xưởng kỹ nghệ, ham mỏ, thương điểm và các nhà làm nghề tự do (Điều 12, Điều 57, Điều 99, Điều 131.); Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Quy chế công nhân (Điều 8, Điều 52); Nghị định số 24/CP ngày 13/3/1963 của Hội đồng Bộ trưởng về Điều lệ tuyên dụng và cho thôi việc đối với công nhân viên chức Nhà nước (Điều 3); Thông tư số 01/LDTBXH-TT ngày 9/1/1988 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội về lao động- tiền lương (Điểm 3 Mục I); Thông tư số 09/LDTBXH- TT ngày 18/4/1989 của Bộ Lao động- Thương bình va Xã hội về thực hiện Chính sách lao động và xã hội đối với lao động làm thuê ở các thành phần kinh tế ngoai quéc doanh (Diém 3, Diém 6 Muc II);.Các van ban trên, mặc dù dé cập đến quyền lợi, nghĩa vụ của những người chưa phát triển đầy đủ về thé chất, tinh thần khi tham gia quan hệ lao động nhưng không đề cập về tên gọi chung dé chỉ đối tượng này khi tham gia lao động. Năm 1994 khi Bộ Luật lao động được ban hành, lần đầu tiên thuật ngữ “người lao động chưa thành niên” được sử dụng để chỉ những người chưa phát triển đầy đủ về thé chất, tinh thần tham gia lao động. Theo đó, Điều 119: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”. Đây là khái 12 niệm đơn giản chỉ dựa trên cơ sở giới hạn độ tuổi tối đa là 18 tuôi dé đề cập những người chưa phát triển đầy đủ về thé chat, tinh thần tham gia lao động.
Khái niệm này chưa nêu rõ những đặc tính cơ bản làm cơ sở dé nhận biết đối tượng người lao động chưa thành niên. Trong Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (2009) nêu: “Lao động chưa thành niên là những lao động dưới 18 tuổi, bao gồm hai loại lao động là lao động dưới 15 tuổi và lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi” ”. Khái niệm này có điểm tương đồng với khái niệm được nêu tại Điều 119 Bộ Luật lao động, dựa trên cơ sở độ tuổi để xác định phạm vi, đồng thời phân loại thành hai nhóm gồm nhóm dưới 15 tuổi và nhóm từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi. Theo tác giả Phan Văn Hùng: “Lao động chưa thành niên là những người chưa thành niên (ở Việt Nam là người dưới 18 tuổi) tham gia hoạt động lao động, có quan hệ lao động (trên cơ sở giao kết hợp đồng lao động) nhằm mục dich tạo ra thu nhập dé nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình””.
Khái niệm trên tương đối dai, trong đó đã giới hạn phạm vi đối tượng (người dưới 18 tuổi), đồng thời xác định phạm vi quan hệ lao động (chỉ gồm người có quan hệ lao động) cũng như chỉ rõ mục đích của đối tượng. Tuy nhiên, tác giả lại chưa chỉ rõ một đặc tính quan trọng của đối tượng này, đó là khả năng lao động. Người dưới 18 tuổi tham gia hoạt động lao động, có quan hệ lao động (trên cơ sở giao kết hợp đồng lao động) nhưng nếu không có khả năng lao động (ví dụ bị tâm than) thì quan hệ lao động đó không được pháp luật thừa nhận và đương nhiên người lao động đó không thê coi là người lao động chưa thành niên.