Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đăk Lắk. Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa tỉnh Đăk Lắk hiện nay. 10 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.
Quan niệm về phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số 1. Khái niệm về phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số Theo từ điển Tiếng Việt thì “Phổ biến là hoạt động truyền đạt rộng khắp làm cho nhiều người cùng biết” [47], hay theo Từ và ngữ Hán Việt thì “Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó hoặc làm cho mọi người đều biết đến”[9]. Phổ biến pháp luật có thể được hiểu dưới hai nghĩa: Nghĩa hẹp là giới thiệu tinh thần văn bản luật cho đối tượng của nó; nghĩa rộng là truyền bá pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước. Vì vậy, ta thể hiểu định nghĩa PBPL như sau: Phổ biến pháp luật bao gồm cả tuyên truyền và giáo dục pháp luật là hoạt động có tính định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể phổ biến pháp luật tác động lên đối tượng được phổ biến pháp luật nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật.
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc vì địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở dân số nhiều hay ít, mà nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc. Ở Việt Nam, khái niệm DTTS được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động 11 Luan van thực tiễn. Thuật ngữ này cũng được sử dụng chính thức trong các bản Hiến pháp. Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc đưa ra khái niệm tại Khoản 2, Điều 4 “DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; Khoản 3, Điều 4: “Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước theo điều tra dân số quốc gia”.
Căn cứ vào kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở quốc gia 2009, Việt Nam có 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ của cả nước, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với số dân 12,253 triệu người (chiếm 14,3%) [16, tr. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra quan niệm chung về Đồng bào dân tộc thiểu số như sau: “Đồng bào dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Từ khái niệm về PBPL chúng ta có thể thấy rằng: Phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số bao gồm cả tuyên truyền và giáo dục pháp luật là hoạt động có tính định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể phổ biến pháp luật tác động lên đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật. PBPL cho đồng bào DTTS là một trong những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho việc chăm lo đời sống của đồng bào DTTS nhằm giúp họ hình thành tri thức pháp luật, tạo niềm tin vào pháp luật để họ có đầy đủ khả năng tham gia vào các quan hệ xã hội phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
Đặc điểm của phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số 1. Đặc điểm chung của phổ biến pháp luật 12 Luan van Nghiên cứu về PBPL cho thấy công tác này có những đặc điểm sau: Thứ nhất, PBPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng: - Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, bản chất của công tác xây dựng pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thể hiện ý chí của nhân dân. Chính sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước đã xác lập sự gắn bó hữu cơ giữa đường lối, chính sách của đảng với pháp luật. Vì vậy, thực hiện pháp luật cũng là góp phần thực hiện đường lối, chính sách của Đảng.
- Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã khẳng định: “Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng” [4, tr. Thứ hai, PBPL có mối liên hệ chặt chẽ với công tác xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật: Phổ biến pháp luật có quan hệ chặt chẽ với công tác xây dựng pháp luật. Trong mối quan hệ này, xây dựng pháp luật là cơ sở cho việc hình thành, đẩy mạnh PBPL; PBPL là một phương tiện quan trọng để đưa pháp luật vào cuộc sống. Thứ ba, PBPL nhằm truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động có những hiểu biết nhất định về pháp luật, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của những cá nhân công dân hoặc những nhóm cộng đồng xã hội cụ thể tiếp nhận tác động của công tác PBPL.
Họ là những người có nhu cầu và cả những người cho rằng mình không có nhu cầu tìm hiểu pháp luật. Thứ tư, PBPL được tổ chức, thực hiện bởi những chủ thể xác định: 13 Luan van - Chủ thể PBPL được hiểu là cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia tổ chức thực hiện công tác PBPL tùy thuộc vào nội dung, hình thức, phương pháp, đối tượng PBPL cụ thể: Chính phủ, Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp. Ngoài hệ thống các cơ quan trên, các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; Viện kiểm sát nhân dân; Tòa án nhân dân; các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể quần chúng. trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình cũng có trách nhiệm tham gia phổ biến pháp luật.
- PBPL có những đặc điểm chung của nó nhưng PBPL cho đối tượng cụ thể là đồng bào DTTS lại là hình thức PBPL đặc thù, nghĩa là ngoài những đặc điểm của PBPL nói chung, PBPL cho đồng bào DTTS còn có những đặc điểm riêng. Đặc điểm riêng đó được phản ánh qua các yếu tố chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức PBPL. Đặc điểm về đối tượng và chủ thể phổ biến pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số. - Đối tượng được PBPL chính là đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk vì Đắk Lắk là một tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, toàn tỉnh hiện có 47 dân tộc anh em sinh sống, đồng bào DTTS chiếm 36,69 dân số toàn tỉnh.
Trong đó các dân tộc bản địa là Êđê, M’nông, Gia rai chiếm hơn 50%, còn lại là các dân tộc di cư đến gồm người Nùng, Tày, Dao, Mường, Thái và một số dân tộc ít người như Cơ Ho, X’Tiêng, Khơ Mú, Phủ Lá, Mạ, Giấy, La Hủ, Lự, Chút.Vì vậy đặc điểm tâm lý, ngôn ngữ, phong tục tập quán, điều kiện cơ sở vật chất, khoảng cách địa lý, và bản sắc của từng dân tộc hoàn toàn khác nhau. Tâm lý dân tộc ít người thường hay tự ti, bảo thủ và cả tâm lý trông chờ, ỷ lại, bao gồm cả tư tưởng cục bộ địa phương. Nhân dân các dân tộc ít người vẫn còn sử dụng hệ thống luật tục. Có những luật tục tiến bộ, tích cực được Nhà nước thừa nhận nhưng bên cạnh đó vẫn còn có những 14 Luan van hủ tục nặng nề, lạc hậu cần phải loại bỏ dần như tang ma, cưới xin.
Đa số đồng bào các DTTS đều biết tiếng Kinh nhưng có người biết không nhiều, thậm chí là không biết. Đây là hạn chế rất lớn khi tiếp thu những tri thức văn hóa nói chung, trong đó có tri thức về pháp luật, kinh tế, xã hội, chính trị, quốc phòng, anh ninh, khoa học kỹ thuật, y tế.Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, con em các đồng bào DTTS được đi học, đào tạo ở nhiều trình độ và các bậc học khác nhau nhưng nhìn chung trình độ học vấn của đồng bào các DTTS là tương đối thấp. Mặt khác, đồng bào DTTS có tâm lý rất dễ tin, nói là nghe nhưng niềm tin đó cũng dễ dàng bị thay đổi nếu không được chứng minh bằng việc làm cụ thể. Vì vậy, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về PBPL cho đồng bào DTTS không chỉ là việc làm cho họ hiểu đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước quy định như thế nào mà quan trọng hơn là việc đường lối đó, pháp luật đó có được minh chứng đúng đắn bằng thực tiễn hay không.
Điều này phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó vai trò của chủ thể PBPL là rất quan trọng. - Về chủ thể PBPL: Chủ thể phổ biến pháp luật được hiểu là cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia tổ chức thực hiện công tác PBPL tùy thuộc vào nội dung, hình thức, phương pháp, đối tượng PBPL. Theo các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn thì chủ thể PBPL là chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệp: + Chủ thể chuyên nghiệp được hiểu là người có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu, trực tiếp, thường xuyên thực hiện nhiệm vụ PBPL. Đó là các giáo viên giảng dạy pháp luật trong các nhà trường; các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật; các biên tập viên, ban biên tập các tạp chí, sách báo có liên quan đến PBPL; các cá nhân, tổ chức quản lý về công tác PBPL, công tác bảo vệ pháp luật, tổ chức trợ giúp pháp lý.