Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NHẬP CƯ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ nhập cư 1. Khái niệm trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ nhập cư * Nhập cư Về nhập cư và người nhập cư, cho đến nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2004, nhập cư là hành động di chuyển chỗ ở đến, vào một vùng hay một quốc gia mới.
Người nhập cư là người di chuyển từ một vùng đến một vùng khác để định cư hoặc tạm trú [38]. Theo quan niệm của tác giả Gary L. Peters, nhập cư là hiện tượng dân số tăng cơ học nhờ dân di chuyển đến khu vực mới, một đơn vị hành chính mới; dân cư mới đến được gọi là dân nhập cư [39]. Trong khi đó, theo một nghiên cứu của tác giả Lê Văn Thành (2005), được thực hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có lượng nhập cư cao nhất cả nước thì, dân nhập cư ở Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là những người từ các tỉnh khác về sinh sống, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh và chưa có hộ khẩu thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Còn những người từ các tỉnh về Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đã được giải quyết hộ khẩu thường trú vì đủ tiêu chuẩn quy định không nằm trong phạm vi này. Như vậy, ở đây lại căn cứ vào việc nhập hộ khẩu để tính là người nhập cư hay không phải là người nhập cư [29]. Liên Hiệp Quốc thì quan niệm: “Người nhập cư dài hạn là những người ở lại nước tiếp nhận trong thời gian hơn một năm, mặc dù họ không liên tục sinh sống tại nước đó trong vòng hơn một năm” [26]. Mặc dù vẫn còn những ý kiến khác nhau nhưng có thể thấy một số điểm chung trong nội hàm khái niệm này, đó là: (i) Sự di chuyển của một người hay một nhóm người đến một đơn vị hành chính mới với mục đích thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc với mục đích khác; (ii) Sự chuyển đến này có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc; (iii) Việc cư trú tại nơi tiếp nhận có thể dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú.Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về người nhập cư có thể áp dụng một cách phổ biến trong phạm vi quốc 8 Luan van gia cũng như trên toàn cầu.
Nội dung của khái niệm này thường được các quốc gia, các nhà nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp với các mục đích nghiên cứu của mình. Từ những phân tích trên cho thấy, nhập cư là hành động di chuyển chỗ ở đến một địa phương khác của một người hoặc một nhóm người để sinh sống lâu dài hoặc tạm thời. Người nhập cư là người từ một địa phương, một nước hay vùng lãnh thổ này di chuyển đến một địa phương, một nước hay vùng lãnh thổ khác để sinh sống, làm việc. Nội hàm của khái niệm này có đề cập đến mối quan hệ giữa người nhập cư và nơi nhập cư.
Phân loại người nhập cư Có nhiều cách phân loại người nhập cư theo các góc độ khác nhau, tùy vào mục đích nghiên cứu. Do vậy việc phân loại người nhập cư chỉ có tính chất tương đối và không tách bạch với nhau. - Theo độ dài thời gian cư trú Người nhập cư lâu dài: Là những người chuyển đến sinh sống vĩnh viễn hoặc lâu dài tại nơi mới (thường là trên 12 tháng). Những người này thường không quay trở về sống tại nơi gốc, họ chỉ quay về để thăm viếng những không có ý định quay trở lại sống ở nơi gốc.
Người nhập cư tạm thời: Là những người chuyển đến sinh sống và làm việc tại nơi mới trong thời gian ngắn và có khả năng quay trở về. Người nhập cư mùa vụ: Là một hình thức đặc biệt của người nhập cư tạm thời, loại hình này bao gồm những người lao động nhập cư vào nơi mới để làm việc thời vụ hoặc tìm việc làm vào những lúc nông nhàn, kể cả những người đicông tác, khám chữa bệnh, du lịch, học tập., họ không có ý định ở lại lâu dài tại địa bàn nhập cư. - Theo tính chất tổ chức, quản lý người nhập cư Người nhập cư có tổ chức: Là những người nhập cư được luật pháp của nước gốc và nước nhập cư cho phép, được chính quyền địa phương nơi nhập cư đón nhận. Theo đó, người nhập cư được nhận sự giúp đỡ từ Nhà nước và địa phương nơi nhập cư.
9 Luan van Người nhập cư tự do: Là những người nhập cư đến nơi mới do bản thân hoặc gia đình họ quyết định, không nằm trong chương trình di cư của Nhà nước, không được hưởng sự hỗ trợ của Nhà nước. - Theo địa bàn nhập cư Người nhập cư trong nước: Là những người di chuyển đến địa phương khác sinh sống, làm việc, học tập trong cùng lãnh thổ một quốc gia. Người nhập cư quốc tế: Là những người từ quốc gia này nhập cư vào quốc gia khác để sinh sống, làm việc, học tập hoặc vì các mục đích khác. Trên cơ sở cách hiểu về nhập cư, người nhập cư và phân loại người nhập cư đồng thời căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của luận án, tôi xác định người nhập cư trong nghiên cứu của mình là những người lao động từ các tỉnh, thành khác di chuyển tự do đến thành phố Đà Nẵng sinh sống, làm việc lâu dài hoặc tạm thời gồm có đăng kí hay không đăng kí hộ khẩu thường trú và người nhập cư mùa vụ với mục đích tìm việc làm trong thời kỳ nông nhàn hoặc làm những công việc có tính thời vụ tại thành phố.
Đặc điểm của người nhập cư Các nghiên cứu về di cư cho thấy, không phải ai cũng chấp nhận và có khả năng di chuyển khỏi “nơi chôn nhau cắt rốn” của mình; những người chấp nhận di chuyển, có khả năng di chuyển và đã di chuyển đến nơi mới thường có một số đặc điểm cơ bản: (1) Đặc điểm về nhân khẩu học. Đặc điểm nhân khẩu học phản ánh những đặc trưng về mặt dân số của người nhập cư như độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân. Chúng là những yếutố quan trọng ảnh hưởng tới quyết định của người nhập cư như di chuyển hay không, di chuyển đến đâu… Các nghiên cứu về di dân đều có chung một nhận xét đó là người nhập cư vào đô thị thường là những người trong độ tuổi lao động và ngày càng có xu hướng trẻ hóa. Tuổi của người nhập cư năm 2015 phần lớn tập trung ở nhóm trẻ (15-39) chiếm tỷ trọng 84% so với tổng số người nhập cư.
Điều này có nghĩa là xu hướng chung trong di dân từ nông thôn ra thành thị là nam giới di chuyển nhiều hơn nữ giới, người trẻ tuổi di chuyển nhiều hơn người lớn tuổi [13]. 10 Luan van Theo Báo cáo Thực trạng việc làm, đời sống của lao động nhập cư từnông thôn ra thành thị và khu công nghiệp của Cục Việc làm thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, xu hướng nữ hóa nhập cư hiệnnay khá phổ biến, tỷ lệ lao động nữ nhập cư từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp chiếm 55%. Điều này đặt ra thách thức cho việc giải quyết các vấn đề bình đẳng giới, chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS), chống buôn bán phụ nữvà các nguy cơ thường gặp khác đối với họ. Như vậy, giới tính của người nhập cư tùy thuộc vào khoảng cách di chuyển, mục đích di chuyển, nhu cầu lao động của nơi đến và thường thì tỉ lệnam/nữ trong dân nhập cư có sự chênh lệch.Tình trạng hôn nhân cũng có mối quan hệ với tính chọn lọc của nhập cư.
Một mặt, mọi người sau khi kết hôn thường gắn bó với gia đình và con cái, dođó không thực sự sẵn sàng để di chuyển đến nơi mới. Mặt khác, nhu cầu hỗ trợkinh tế cho gia đình lại là động cơ của việc di chuyển [3]. (2) Đặc điểm về văn hóa - xã hội. Phần lớn người nhập cư đều có quê quán từ nông thôn, có những tính cách như chịu khó; tiết kiệm; tính cộng đồng, làng xã; thường lựa chọn không gian sống yên tĩnh, không thích sự ồn ào… những phẩm chất này rất cần thiết cho quátrình phát triển nhưng cũng là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng lao động như thiếu kỹ năng làm việc tổ chức, tác phong công nghiệp, tự do, thiếukỷ luật… ảnh hưởng đến việc xây dựng lối sống văn hóa văn minh đô thị.
Khi vào sinh sống ở đô thị được một thời gian, người nhập cư tự do đã phần nào làm quen với lối sống (theo nghĩa hẹp) ở đô thị, họ có những phản ứng khác nhau, tùy thuộc vào trình độ học vấn, độ tuổi [30].Tuy nhiên, vấn đề hòa nhập, mức độ thích nghi với các loại hình văn hóa kiểu đô thị ở những người nhập cư là rất chậm, rất ít. Bộ phận người nhập cư lâu dài vào đô thị thường có xu hướng thay đổi nhu cầu về mặt không gian sống, một bộ phận người nhập cư chuyển từ lối sống nặng về tình cảm xóm giềng sang cuộc sống khép kín hơn giữa các thành phần dân cư khác nhau tại các đô thị. Nhìn chung, có thể nói rằng trong quá trình hội nhập, một bộ phận người nhập cư (đặc biệt là giới trẻ, có trình độ học vấn cao hơn) có thể chấp nhận được lối sống đô thị đồng nghĩa là họ đã phần nào loại bỏ một số giá trị, chuẩn mực truyền thống để đón nhận chuẩn mực, giá trị mới. Điều này ở khía cạnh nào đó cũng mang 11 Luan van các giá trị tích cực, bên cạnh những lợi ích kinh tế, khi người nhập cưquay trở về quê họ đã góp phần làm thay đổi ý thức, lối sống của người dân nôngthôn, thiết lập các thang bậc giá trị mới.
(3) Đặc điểm về học vấn, chuyên môn. Trình độ học vấn, chuyên môn tùy thuộc vào nơi xuất cư, nhu cầu lao động nơi nhập cư và vào khoảng cách di chuyển. Trong đó đáng chú ý là lực lượng dân nhập cư có trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề cao thường nhậpư nhiều hơn. Tức là ở đây có sự tương quan thuận giữa học vấn và nhập cư.Nếu mọi điều kiện khác đều như nhau thì những người học vấn cao thường hay ra đi hơn so với những người học vấn thấp hơn bởi vì họ không thỏa mãn với công việc đang làm, họ muốn tìm công việc thích hợp hơn và có thu nhập cao hơn.
Theo đó, người nhập cư dài hạn thường có học vấn cao hơn so với người nhập cư tạm thời.