CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE NAN NHÂN BAO LỰC GIA ĐÌNH VA BẢO VE, HO TRO NAN NHÂN BAO LUC GIA ĐÌNH 1. Khai niệm, đặc điểm của bao lực gia đình 1. Khái niệm bạo lực gia đình Hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng là những sự kiện đặc biệt tạo lên gia đình. Vì vậy, các thành viên trong gia đình gan kết với nhau bằng mối liên hệ tình cảm.
Dưới góc độ pháp lý sự liên kết này cũng là căn cứ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ tương ứng giữa các chủ thé. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các thành viên gia đình đã không tôn trọng thực hiện các nghĩa vụ pháp lý đối với nhau mà trái lại họ lại thực hiện các hành vi gây ton hại về tinh than, thé chất, kinh tế cho thành viên gia đình. Trong khoa học pháp lý, hành vi này được gọi là hành vi “bạo lực gia đình”. Bạo lực gia đình là van đề mang tính toàn cầu.
Bởi vì, bạo lực gia đình xảy ra ở tất cả các quốc gia trên thế giới, xâm hại đến các quyền con người của cá nhân và ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hội. Vì thế, pháp luật về phòng, chống bạo bạo lực gia đình là mối quan tâm chung của cả cộng đồng quốc tế cũng như mỗi quốc gia. Là một dạng thức của bạo lực trên cơ sở giới, theo nghĩa chung nhất, bạo lực gia đình được hiểu là hành vi được thành viên gia đình sử dụng dé “tran áp” đối với thành viên khác. Với nghĩa này, cách tiếp cận về hành vi bạo lực gia đình có ngoại hàm rộng hơn.
Bạo lực gia đình không chỉ đơn thuần là cách sử dụng sức mạnh thé chất dé tran áp đối với thành viên gia đình mà bao gồm tat cả các hành vi có thé gây ton thương hoặc đe doa gây ton thương cho nạn nhân bạo lực gia đình. Bao lực gia đình được thé hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như đánh đập, hành hạ, cưỡng bức về mặt tinh thần như lăng mạ, chì chiết, làm nhục người khác hoặc cưỡng bức về tinh dục, cô lập về tài chính, cô lập về các mối quan hệ của nạn nhân bạo lực với các thành viên khác trong gia đình. Hanh vi bạo lực gia đình là hành vi vi phạm pháp luật vì người thực hiện hành vi đã xâm hại đến quyền tự do cơ bản của công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong Tuyên bố về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với Phụ nữ (năm 1993), Đại hội đồng Liên Hiệp quốc giải thích rõ: bạo lực trên cơ sở 16 giới là bất kỳ một hành động bạo lực nào dựa trên cơ sỏ giới mà gây tổn hại hoặc đau đớn cho phụ nữ về mặt thân thể, tình dục hoặc tâm lý, kê cả việc đe dọa thực hiện những hành động như vậy, sự ép buộc hay tước đợt tự do, cho dù xảy ra ở nơi công cộng hay cuộc sống riêng tư.
Như vậy, với định nghĩa này bạo lực trên cơ sở giới không chỉ giới hạn trong phạm vi cuộc sống riêng tư mà còn bao gồm cả hành vi bạo lực trên bình diện xã hội. Nói một cách khác, bạo lực gia đình chỉ là một dạng thức của bạo lực trên cơ sở giới. Vì vậy, van dé đặt ra là dé giảm thiểu tình trạng bạo lực trên cơ sở giới thì phải thực hiện mọi nỗ lực dé phòng ngừa mọi hình thức bao lực trong phạm vi gia đình cũng như đời sống xã hội. Cao ủy Liên Hiệp quốc về Người tị nạn (UNHCR) và các đối tác đã sử dụng một “định nghĩa mở rộng về bạo lực tình dục và bạo lực trên cơ sở giới”.
Theo đó, bạo lực giới được định nghĩa như sau: Bạo lực trên cơ sở giới là bạo lực nhằm vào một người trên cơ sở phân biệt giới hoặc giới tính. Nó bao gồm các hành động gây tac hại hoặc gây đau đớn vè thé xác, tinh thần hay tình dục, gom ca su đe dọa thực hiện những hành vi nay, sự cưỡng bức va tước đoạt tự do dưới mọi hình thức khác nhau. Mặc dù phụ nữ, nam giới, trẻ em trai và trẻ em gái đều có thé trở thành nạn nhân của bao lực trên cơ sở giới, phụ nữ và trẻ em em gái thường là nạn nhân chủ yếu. Bạo lực trên cơ sở giới phải được hiểu là bao gồm, nhưng không giới han ở các hình thức sau: (i) Bạo lực thê xác, tình dục và tâm lý xảy ra trong gia đình, bao gồm cả hành vi đánh đập, bóc lột tình dục, lạm dụng tình dục trẻ em trong gia đình, bạo lực liên quan đến của hồi môn, cưỡng hiếp trong hôn nhân, cắt bỏ bộ phận sinh dục nữ và các thủ tục khác gây hại đến phụ nữ, bạo lực không phải do bạn tình gây ra và bạo lực liên quan đến bóc lột; (1) bạo lực thể xác, tình dục và tâm lý xảy ra trong cộng đồng bao gồm: cưỡng hiếp, lạm dụng tình dục tại nơi làm việc, trong các cơ sở giáo dục hoặc bất kỳ đâu; buôn bán phụ nữ và mại dâm cưỡng bức; (11) bạo lực thể xác, tình dục và tâm lý được gây ra hoặc được bỏ qua bởi nhà nước và các tô chức hoặc cho dù xảy ra bất cứ ở đâu.
Định nghĩa này đã lý giải sâu sắc nguyên nhân dẫn đến bạo lực trên cơ sở giới đồng thời đã khái quát được tất cả các hình thức bạo lực. Vì vậy, đây cũng là định nghĩa được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi trong việc giải thích về bạo lực trên cơ sở giới hiện nay. 17 Như vậy, nhận diện rõ về bạo lực trên cơ sở giới nói chung và bạo lực gia đình nói riêng là cơ sở quan trọng dé xây dựng chính sách, pháp luật nhằm tạo khuôn khổ pháp lý để thực hiện việc phòng ngừa bạo lực, giảm thiểu những hậu quả đáng tiếc cho cá nhân cũng như cho xã hội. Việt Nam là thành viên của nhiều Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người, đặc biệt phải kể đến Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với Phụ nữ (CEDAW).
Trong tiến trình đó, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực xây dựng khuôn khổ pháp lý nhằm loại bỏ sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới, đảm bảo các cam kết quốc tế với tư cách là thành viên của Công ước. Hệ thống pháp luật Việt Nam về bình đăng giới không ngừng được hoàn thiện. Đặc biệt, trong nỗ lực không ngừng về xóa bỏ bạo lực gia đình, Việt Nam đã ban hành Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2006. Với ý nghĩa đó, Luật phòng, chống bạo lực gia đình Việt Nam định nghĩa: bạo lực gia đình là hành vi cô ý của thành viên gia đình gây tổn hai hoặc có khả năng gây tốn hại về thé chat, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.
Trên cơ sở đó, Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình tiếp tục làm rõ nội hàm khái niệm bạo lực gia đình bang viéc liét ké cac hanh vi duoc xac định là hành vi bao lực gia đình. Theo đó, hành vi bao luc gia đình bao gồm: + Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng; + Lăng mạ hoặc hành vi cô ý khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm; + Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; + Ngăn cản việc thực hiện quyên, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, ba và các chau; giữa cha, mẹ và con; g1ữa vợ và chồng: giữa anh, chị em với nhau; + Cưỡng ép quan hệ tinh dục; + Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ + Chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá hoặc có hành vi cô y khác làm hư hỏng tai sản riêng của các thành viên trong gia đình; 18 + Cưỡng ép thành viên khác trong gia đình lao động qua sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ, kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhăm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính; + Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở. Ngoài ra, hành vi bạo lực gia đình được liệt kê trên cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng. Như vậy, Luật phòng, chống bao lực gia đình đã định nghĩa hành vi bạo lực gia đình theo cách liệt kê các hành vi bạo lực gia đình, Định nghĩa này cũng chi rõ được các hình thức bạo lực gia đình bao gồm các dạng thức bạo lực về thé xác, tình dục, tinh thần và kinh tế.
Tuy nhiên, với cách thức định nghĩa này, có thể dẫn đến việc bỏ sót các hành vi bạo lực vì định nghĩa mang tính liệt lê không thể khái quát được tất cả các hành vi bạo lực gia đình. Mặt khác, hành vi bạo lực gia đình theo cách giải thích này sẽ không được xác định đối với các dạng thức sông chung khác trong đó có cặp đôi cùng giới tính chung sống với nhau. Bởi lẽ, hiện nay pháp luật không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính nhưng hai người cùng giới tính sống chung thực hiện hành vi bạo lực có được xác định là hành vi bạo gia đình hay không? Thiết nghĩ, đây là khoảng trống pháp luật mà Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chưa dự liệu cụ thể. Pháp luật của mỗi quốc gia có những định nghĩa khác nhau về bạo lực gia đình.
Pháp luật Việt Nam định nghĩa “Bao lực gia đình là hành vi có ý của thành viên gia đình gây tốn hại hoặc có kha năng gây ton hại về thé chất, tinh than, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”, đồng thời liệt kê rõ các hành vi được coi là bao lực gia đình. Pháp luật của một số nước trên thế giới không định nghĩa bạo lực gia đình theo cách liệt kê các hành vi mà chỉ giải thích nội hàm của khái niệm này. Tương tự như vậy, có những quốc gia xác định hành vi bạo lực gia đình đối với cả người giúp việc trong gia đình hoặc giữa những người thuộc nhóm LGBT chung sông với nhau, trong khi đó theo pháp luật Việt Nam, bạo lực gia đình mới chỉ giới hạn giữa các thành viên gia đình, giữa những người đã từng là vợ chông hoặc nam, nữ chung sông với nhau như vợ chông. 3 Xem khoản 2 Điều 1 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007.