Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi về nước" do nghiên cứu sinh Vũ Thị Yến thực hiện tại Trường Đại học Thương mại, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Bùi Hữu Đức và TS Chu Thị Thủy. Công trình thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế, mã số đào tạo 62.10, được bảo vệ năm 2020 tại Hà Nội.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, theo số liệu từ Cục Quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tính đến cuối năm 2018, Việt Nam có hơn 500.000 lao động đang làm việc tại 49 quốc gia và vùng lãnh thổ, hoạt động trong 30 nhóm ngành nghề khác nhau. Trung bình mỗi năm, cả nước đưa khoảng 100.000 người đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng, tương đương 5% tổng số lao động được giải quyết việc làm trên toàn quốc. Cơ cấu lực lượng xuất khẩu lao động cho thấy: lao động chuyên gia chỉ chiếm hơn 0,18%; lao động có tay nghề chiếm gần 43%; trong khi lao động phổ thông chiếm tỷ lệ lớn nhất với hơn 56%. Xét theo lĩnh vực hoạt động, công nhân làm việc trong ngành công nghiệp chiếm gần 49%; thủy sản và vận tải biển chiếm hơn 6,2%; lao động giúp việc gia đình chiếm hơn 15,2%.
Phần lớn người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có thời hạn là lao động phổ thông xuất thân từ vùng nông thôn, miền núi, thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo. Sau khi kết thúc thời hạn hợp đồng trở về quê hương, nhóm lao động này đối mặt với nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm phù hợp với trình độ tay nghề và kinh nghiệm tích lũy ở nước ngoài. Tình trạng thiếu thông tin việc làm kết hợp với học vấn chưa cao khiến họ đứng trước nguy cơ thất nghiệp kéo dài và tái nghèo. Trong khi đó, các cơ quan quản lý nhà nước thời gian qua chủ yếu tập trung nguồn lực vào khâu đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, mà chưa quan tâm đúng mức đến khâu tiếp nhận, tái hòa nhập và hỗ trợ tạo việc làm bền vững cho lực lượng hồi hương. Quá trình triển khai chính sách tại địa phương gặp nhiều trở ngại do nhận thức xã hội hạn chế và nguồn lực phân bổ chưa đáp ứng yêu cầu. Trước thực trạng đó, luận án lựa chọn nghiên cứu toàn diện hệ thống chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động hồi hương nhằm lấp đầy khoảng trống về lý luận và thực tiễn quản lý.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng triển khai, lượng hóa tác động của các chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi về nước, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách. Luận án thực hiện năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- (i) Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài khi về nước.
- (ii) Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về xây dựng, thực thi chính sách và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- (iii) Phân tích thực trạng triển khai các chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động Việt Nam khi về nước tại các địa phương khảo sát.
- (iv) Đánh giá tác động của các chính sách hỗ trợ tạo việc làm đến trạng thái việc làm, thu nhập của người lao động và tỷ lệ người lao động bỏ trốn không về nước đúng thời hạn.
- (v) Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động Việt Nam khi về nước trong giai đoạn đến năm 2025.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi về nước. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại 05 tỉnh có tỷ lệ lao động đi làm việc ở nước ngoài thuộc nhóm cao nhất cả nước gồm Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Hải Dương và Nam Định.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2010-2018; dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra khảo sát trong giai đoạn 2018-2019 (từ tháng 12/2018 đến tháng 4/2019); các giải pháp hoàn thiện chính sách được định hướng đến năm 2025 và những năm tiếp theo.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung đánh giá 04 nhóm chính sách trực tiếp gồm: (1) Chính sách phát triển thị trường lao động, (2) Chính sách tín dụng ưu đãi, (3) Chính sách đào tạo nghề và đào tạo lại, (4) Chính sách hỗ trợ khởi nghiệp kinh doanh. Các chính sách việc làm công hoặc chính sách đưa lao động tiếp tục đi làm việc ở nước ngoài không thuộc phạm vi nghiên cứu do tính chất ngắn hạn hoặc đã được điều chỉnh bởi khung pháp luật hiện hành khác.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành bốn nhóm chủ đề chính:
Nhóm nghiên cứu về vấn đề việc làm: Niny Khor và Devashish Mitra (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và chất lượng việc làm tại các nền kinh tế châu Á gồm Hồng Kông, Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc và Malaysia. Elizabeth Morris (2006) và Pieters (2013) làm rõ xu hướng việc làm, thu nhập và an sinh xã hội cho thanh niên tại các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, nhiều công trình phân tích các khía cạnh việc làm của lao động nông thôn và thanh niên như nghiên cứu của Nguyễn Dũng Anh (2014), Nguyễn Duy Phương (2013), Trần Thị Thu (2002), Triệu Đức Hạnh (2012), Hồ Thị Diệu Ánh (2015), Vũ Văn Phúc (2012), Ngô Quỳnh An (2012), Nguyễn Thị Lan Hương (2013), Trần Ngọc Diễn (2013), Nguyễn Xuân Khoát (2007), Bùi Ngọc Thanh, Nguyễn Tiệp (2008), Nguyễn Thị Kim Phụng (2004), Phạm Thị Ngọc Vân (2013), Trần Đình Chín (2012), Bùi Tôn Hiến (2009) và Đồng Văn Tuấn (2011). Hầu hết các tác giả đều sử dụng định nghĩa việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) để phân tích sự phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất.
Nhóm nghiên cứu về chính sách hỗ trợ tạo việc làm: Các báo cáo của ILO (1998, 2010, 2012, 2013, 2015) cung cấp hướng dẫn xây dựng chính sách việc làm quốc gia, điều tiết cung cầu lao động và gắn kết tiêu chuẩn lao động quốc tế với bảo trợ xã hội. Djankov và cộng sự (2009) khảo sát luật việc làm ở các nước đang phát triển, chỉ ra tác động của quy định lao động cứng nhắc đến khu vực phi chính thức và tỷ lệ thất nghiệp của lao động trẻ. Hill (2017) khảo sát thị trường Ấn Độ, O’Higgins (2001) tiếp cận thất nghiệp thanh niên trên bình diện toàn cầu. Ở trong nước, Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung (1997) trong cuốn "Về Chính sách việc làm ở Việt Nam" đã định nghĩa bản chất chính sách việc làm là chính sách xã hội được thể chế hóa. Nguyễn Văn Thắng (2013), Lê Quốc Lý (2016), Đỗ Đức Quân và Nguyễn Thị Thanh Tâm (2017), Hà Anh (2015) và Lê Văn Hòa (2016) tiếp cận chính sách việc làm dưới góc độ công cụ quản lý kinh tế - xã hội, khung giám sát và đo lường kết quả thực thi chính sách công.
Nhóm nghiên cứu về chính sách hỗ trợ lao động di cư hồi hương trên thế giới: Báo cáo của ILO (2012) phân tích thực trạng người lao động Thái Lan trở về từ Liên minh châu Âu và các mạng lưới hỗ trợ pháp lý, kinh tế, xã hội từ IOM và ILO. Các tài liệu của IOM (2005, 2008) nhấn mạnh tiềm năng phát triển của lao động di cư trở về thông qua việc thiết lập môi trường tái hòa nhập minh bạch. Stella (2012), Denise L. Spitzer (2016), Calzado (2007) và Kevil O’Neil (2004) đi sâu phân tích gói dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập cá nhân, kinh tế và cộng đồng của chính phủ Philippines bao gồm đào tạo, cho vay vốn và học bổng. Kloppenburg (2012) và Farbenblum (2013) nghiên cứu rào cản tiếp cận công bằng xã hội và dịch vụ hỗ trợ việc làm của lao động di cư Indonesia.
Nhóm nghiên cứu về việc làm và chính sách cho lao động Việt Nam hồi hương: Báo cáo của Cục Quản lý lao động ngoài nước (DOLAB) và Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) năm 2012 chỉ ra 57,75% người lao động về nước gặp khó khăn khi tìm kiếm việc làm do thiếu hụt thông tin thị trường, nhiều người phải mất tới 6 tháng tìm kiếm nhưng không tìm được công việc phù hợp với tay nghề. Đặng Nguyên Anh (2008) thảo luận về các vấn đề mới nổi trong quản lý lao động di cư. IOM (2014) khuyến nghị thiết lập các điểm cung cấp thông tin tại sân bay và nơi làm việc ở nước ngoài để người lao động tiếp cận dịch vụ hỗ trợ. Ngô Thị Phương Lan và Phạm Thanh Thôi (2015) chỉ ra rằng trình độ chuyên môn học được tại Nhật Bản ít được các tu nghiệp sinh sử dụng khi về nước; các yếu tố tuổi tác, gia đình và vốn tích lũy có ảnh hưởng lớn hơn tới chiến lược sinh kế. Trần Thị Ngọc Anh, Nguyễn Ngọc Bình, Đỗ Minh Hải (2013) và Nguyễn Thị Thuận (2005) đúc rút kinh nghiệm quản lý, phúc lợi của Philippines và các nước châu Á. Đáng chú ý, nghiên cứu của Lưu Quang Tuấn và Viện Lao động Hàn Quốc (KLI, 2015) đối với lao động tham gia Chương trình EPS về nước cho thấy: 67,6% lao động làm công việc không liên quan đến công việc từng làm tại Hàn Quốc; 45,8% chưa thỏa mãn với thu nhập; 41,9% nhận thấy tiềm năng phát triển hạn chế và 40,8% đánh giá vị trí việc làm chưa phù hợp với năng lực. Phạm Đức Chính (2010) cũng phân tích chính sách sử dụng nguồn nhân lực sau xuất khẩu lao động tại Việt Nam.
Từ việc tổng quan tài liệu, luận án xác định ba khoảng trống nghiên cứu chính:
- Thiếu khung lý thuyết toàn diện và hệ thống hóa về chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng đặc thù là lao động đi làm việc ở nước ngoài khi về nước.
- Thiếu các nghiên cứu phân tích thực trạng triển khai đồng bộ 04 nhóm chính sách hỗ trợ tạo việc làm từ cấp trung ương đến địa phương nhằm làm rõ thành công, hạn chế và nguyên nhân thực tiễn.
- Chưa có công trình nào xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả triển khai kết hợp với mô hình kinh tế lượng để lượng hóa tác động của các chính sách này lên trạng thái việc làm bền vững, mức thu nhập của người lao động và tỷ lệ người lao động bỏ trốn không về nước đúng hạn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng quan điểm của C. Mác về việc làm là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và các điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó; định nghĩa việc làm của ILO tại Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ 13 (1993); khái niệm việc làm bền vững (Decent Work, ILO 2009); quy định tại Điều 3 Luật Việc làm năm 2013; định nghĩa lao động di cư theo Công ước Liên hợp quốc; và Điều 3 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006. Khung nghiên cứu được xây dựng dựa trên việc kế thừa mô hình lý thuyết của Nguyễn Hoài Nam (2015), Phạm Hương Thảo (2019), phân loại chính sách của Nguyễn Thị Lan Hương và cộng sự (2013), các yếu tố tác động của Nguyễn Văn Thắng (2014), cùng nguyên lý đánh giá chính sách công của Đoàn Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2007).
Về khung đánh giá chính sách, tác giả tích hợp mô hình đánh giá tác động chính sách công của Banerjee, Singh và Samad (2009) theo chuỗi logic: Đầu vào (Inputs) -> Đầu ra (Outputs) -> Kết quả ngắn và trung hạn (Outcomes) -> Tác động dài hạn (Impact). Đồng thời, luận án áp dụng khung logic của Khandker và cộng sự (2010) chia hệ thống chỉ báo thành: nhóm chỉ số trực tiếp (lượng hóa đầu vào, đầu ra) và nhóm chỉ số mục tiêu/cuối cùng (đo lường kết quả và tác động lên đối tượng thụ hưởng). Bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi gồm: môi trường chính trị - pháp luật, nguồn lực đảm bảo, năng lực hoạch định và triển khai, nhận thức và khả năng tiếp cận của người lao động.
Quy trình nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng qua các bước cụ thể:
- Phương pháp định tính: Thu thập dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010-2018 từ Trung tâm Lao động ngoài nước (COLAB), Cục Quản lý lao động ngoài nước (DOLAB), Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Ngân hàng Thế giới và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh. Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 50 cán bộ quản lý và thực thi chính sách tại Sở và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội của 05 tỉnh nghiên cứu, đồng thời tham vấn các chuyên gia trong lĩnh vực lao động ngoài nước.
- Phương pháp định lượng:
- Điều tra sơ bộ: Tiến hành khảo sát 112 lao động hồi hương nhằm kiểm tra độ tin cậy thang đo (Cronbach’s Alpha) và mức độ hội tụ của thang đo thông qua phân tích nhân tố khám phá (EFA).
- Điều tra chính thức: Áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng (stratified sampling) ngẫu nhiên tại 15 huyện thuộc 05 tỉnh: Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Hải Dương và Nam Định. Tổng số phiếu phát ra là 600 phiếu, thu về 536 phiếu, trong đó có 498 phiếu hợp lệ đưa vào phân tích. Cỡ mẫu này thỏa mãn tiêu chuẩn của Hair và cộng sự (1998) với tỷ lệ tối thiểu $n \ge 5 \times k$ ($k = 22$ biến quan sát, cỡ mẫu tối thiểu là 110). Bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Không quan trọng đến 5: Rất quan trọng).
Dưới đây là bảng tổng hợp cơ cấu phiếu điều tra hợp lệ theo địa bàn nghiên cứu của luận án:
| STT |
Địa phương khảo sát |
Số huyện khảo sát |
Số phiếu phát ra |
Số phiếu thu về |
Số phiếu hợp lệ |
Tỷ lệ phiếu hợp lệ (%) |
| 1 |
Nghệ An |
03 |
120 |
108 |
102 |
20,48 |
| 2 |
Thanh Hóa |
03 |
120 |
106 |
99 |
19,88 |
| 3 |
Hà Tĩnh |
03 |
120 |
105 |
96 |
19,28 |
| 4 |
Hải Dương |
03 |
120 |
109 |
103 |
20,68 |
| 5 |
Nam Định |
03 |
120 |
108 |
98 |
19,68 |
| Tổng |
05 tỉnh |
15 |
600 |
536 |
498 |
100,00 |
Kỹ thuật phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 22.0 và Excel bao gồm:
- Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha: Điều kiện chấp nhận là hệ số Alpha đạt từ 0,6 trở lên và hệ số tương quan biến - tổng (Corrected Item-Total Correlation) lớn hơn 0,3 (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Kiểm tra điều kiện chỉ số KMO $> 0,5$, kiểm định Bartlett có mức ý nghĩa $p < 0,05$, trích yếu tố theo phương pháp Principal Components Analysis với phép xoay Varimax, điểm dừng Eigenvalue $> 1$, hệ số tải nhân tố (Factor Loading) $> 0,5$ và tổng phương sai trích đạt từ 50% trở lên.
- Phân tích hồi quy tuyến tính bội OLS bằng phương pháp Enter để đánh giá tác động lên thu nhập ($Y$):
$$Y = \beta_0 + \beta_1 X_1 + \beta_2 X_2 + \beta_3 X_3 + \beta_4 X_4 + \varepsilon_i$$
Trong đó: $X_1$ là chính sách phát triển thị trường lao động; $X_2$ là chính sách đào tạo nghề và đào tạo lại; $X_3$ là chính sách tín dụng ưu đãi; $X_4$ là chính sách hỗ trợ khởi nghiệp kinh doanh. Mô hình được kiểm tra các vi phạm giả định thông qua phần dư chuẩn hóa, độ chấp nhận Tolerance, hệ số phóng đại phương sai VIF và hệ số $R^2$ điều chỉnh.
- Phân tích hồi quy nhị phân (Binary Logistic) để dự báo xác suất người lao động có việc làm bền vững ($P_i$) và xác suất người lao động về nước đúng thời hạn ($Y = 1$).
- Phân tích phương sai ANOVA nhằm kiểm định sự khác biệt về nhận thức và mức độ đánh giá chính sách giữa các nhóm địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 1 làm rõ bức tranh tổng quan tài liệu về việc làm và chính sách việc làm trong và ngoài nước, từ đó xác lập ba khoảng trống nghiên cứu trọng tâm. Tác giả thiết lập hệ thống 04 câu hỏi nghiên cứu, mô hình khung và quy trình thực hiện gồm 5 bước logic. Trong chương này, luận án xác định ba giả thuyết nghiên cứu khoa học cần kiểm chứng:
- Giả thuyết H1: Chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi về nước có tác động thuận chiều làm tăng tỷ lệ người lao động tìm kiếm được việc làm bền vững.
- Giả thuyết H2: Chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi về nước có tác động tích cực góp phần làm tăng thu nhập bình quân của người lao động khi về nước.
- Giả thuyết H3: Chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi về nước có tác động theo chiều hướng làm giảm tỷ lệ người lao động bỏ trốn không về nước đúng thời hạn.
Chương 1 cũng trình bày toàn bộ thiết kế chọn mẫu điều tra sơ bộ (112 phiếu), chọn mẫu chính thức (498 phiếu hợp lệ tại 05 tỉnh), thang đo Likert 5 mức độ và các bước phân tích kiểm định trên phần mềm SPSS 22.0.
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài khi về nước
Chương 2 chuẩn hóa hệ thống khái niệm khoa học: lao động di cư quốc tế, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Luật năm 2006 phân loại 4 hình thức hợp đồng), người lao động hồi hương, việc làm chính/phụ, việc làm tự làm, việc làm đầy đủ và việc làm bền vững (Decent Work). Luận án định nghĩa chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động hồi hương là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, mục tiêu, giải pháp và công cụ của Nhà nước nhằm hỗ trợ tìm kiếm và tạo việc làm, phát huy nguồn lực lao động phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Luận án phân tích chi tiết nội dung 04 nhóm chính sách cốt lõi:
| Nhóm chính sách |
Nội dung và công cụ thực hiện |
Mục tiêu cụ thể đối với lao động hồi hương |
| Phát triển thị trường lao động |
Cung cấp thông tin thị trường lao động; tổ chức các phiên giao dịch việc làm chuyên đề (như EPS, IM Japan); kết nối doanh nghiệp FDI. |
Giảm chi phí và thời gian tìm việc, kết nối cung cầu lao động có tay nghề với người sử dụng lao động. |
| Tín dụng ưu đãi |
Cho vay vốn ưu đãi tạo việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội; cơ chế thế chấp linh hoạt. |
Hỗ trợ vốn tự tạo việc làm, mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh hộ gia đình. |
| Đào tạo nghề và đào tạo lại |
Tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyển đổi tay nghề; đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề tương đương với kinh nghiệm tích lũy ở nước ngoài. |
Chuẩn hóa kỹ năng, thích ứng công nghệ sản xuất trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh. |
| Hỗ trợ khởi nghiệp kinh doanh |
Tư vấn lập dự án kinh doanh, đào tạo kỹ năng quản trị doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ và chính sách ưu đãi mặt bằng/thuế. |
Chuyển hóa nguồn vốn kiều hối tích lũy thành vốn đầu tư sản xuất kinh doanh dài hạn. |
Chương này cũng phân tích 04 nhóm yếu tố ảnh hưởng gồm: môi trường thể chế chính trị - pháp luật, nguồn lực triển khai (tài chính, cơ sở vật chất, nhân lực), năng lực của đội ngũ cán bộ thực thi và nhận thức của người lao động. Đồng thời, tác giả khảo cứu kinh nghiệm thực tiễn từ Ấn Độ, Philippines (mô hình quỹ OWWA, gói tái hòa nhập toàn diện), Pakistan và Sri Lanka, từ đó rút ra các bài học về xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động hồi hương, đa dạng hóa gói hỗ trợ tái hòa nhập và gắn kết các bên liên quan.
Chương 3: Phân tích và đánh giá thực trạng chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi về nước
Chương 3 khái quát tình hình xuất khẩu lao động giai đoạn 2014-2018 và đặc điểm người lao động khi về nước. Độ tuổi phổ biến của lao động hồi hương là từ 20 đến 35 tuổi, có sức khỏe tốt, tiếp cận được phong cách làm việc công nghiệp và công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, tình trạng lao động bỏ trốn cư trú bất hợp pháp, không về nước đúng hạn tại một số địa phương (đặc biệt tại Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh) diễn ra phức tạp, khiến nhiều huyện bị phía Hàn Quốc và Nhật Bản tạm dừng tiếp nhận lao động.
Về kết quả triển khai 04 nhóm chính sách:
- Chính sách phát triển thị trường lao động: Trung tâm Lao động ngoài nước (COLAB) phối hợp với các Trung tâm Dịch vụ việc làm tổ chức các phiên giao dịch việc làm chuyên đề dành riêng cho lao động EPS và IM Japan (giai đoạn 2012-2018 và 2015-2019 tại Hà Nội). Dù vậy, hoạt động này còn mang tính thời vụ, chủ yếu diễn ra ở thành phố lớn; hệ thống cơ sở dữ liệu thị trường lao động tại các huyện miền núi thuộc Nghệ An, Hà Tĩnh chưa kết nối đồng bộ.
- Chính sách tín dụng ưu đãi: Nguồn vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội chủ yếu tập trung hỗ trợ cho vay trước khi đi xuất khẩu lao động (chiều đi), trong khi nguồn vốn vay ưu đãi giải quyết việc làm sau khi hồi hương (chiều về) còn rất hạn hẹp, định mức vay thấp và thủ tục chứng minh phương án sản xuất kinh doanh còn phức tạp.
- Chính sách đào tạo nghề và đào tạo lại: Các khóa đào tạo nghề tại địa phương chưa tương thích với trình độ kỹ thuật và máy móc mà người lao động đã thao tác tại các nước công nghiệp phát triển, thiếu quy trình kiểm định và công nhận văn bằng, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc tế.
- Chính sách hỗ trợ khởi nghiệp kinh doanh: Mới dừng ở mức tuyên truyền chung, thiếu các vườn ươm doanh nghiệp, chương trình đào tạo quản trị tài chính và tư vấn pháp lý chuyên sâu để định hướng kiều hối vào đầu tư sản xuất kinh doanh bài bản.
Kết quả kiểm định định lượng từ 498 mẫu khảo sát cho thấy: Kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích EFA xác nhận thang đo đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ cao (hệ số tải nhân tố $> 0,5$, tổng phương sai trích $> 50%$). Kết quả phân tích hồi quy OLS và hồi quy Binary Logistic khẳng định cả 04 nhóm chính sách đều có tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến thu nhập, nâng cao xác suất có việc làm bền vững và giảm xác suất bỏ trốn không về nước đúng hạn. Nhóm lao động được tiếp cận và thụ hưởng chính sách có mức thu nhập bình quân và tỷ lệ có việc làm cao hơn rõ rệt so với nhóm không được thụ hưởng.
Về nguyên nhân của các hạn chế, luận án chỉ rõ: Tỷ lệ cán bộ làm công tác lao động - việc làm tại cấp huyện và xã được đào tạo đúng chuyên ngành còn thấp; nhận thức của xã hội và của chính người lao động về tái hòa nhập nghề nghiệp chưa đầy đủ; thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp xuất khẩu lao động và các doanh nghiệp trong nước (bao gồm doanh nghiệp FDI).
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi về nước trong thời gian tới
Chương 4 phân tích bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, các cam kết quốc tế và định hướng hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam đến năm 2025. Tác giả đề xuất các quan điểm và phương hướng hoàn thiện chính sách nhằm chuyển từ việc phái cử đơn thuần sang chu trình di cư lao động khép kín và an toàn. Luận án đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện tương ứng với 04 nhóm chính sách:
- Hoàn thiện chính sách phát triển thị trường lao động: Thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu trực tuyến tích hợp thông tin lao động hồi hương từ Cục Quản lý lao động ngoài nước đến các Trung tâm Dịch vụ việc làm cấp tỉnh; mở rộng tổ chức các phiên giao dịch việc làm lưu động tại các địa phương có đông lao động hồi hương; xây dựng mạng lưới liên kết thông tin giữa các doanh nghiệp dịch vụ xuất khẩu lao động và các doanh nghiệp sử dụng lao động trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Nhật Bản, Hàn Quốc.
- Hoàn thiện chính sách tín dụng ưu đãi: Bố trí phân bổ thêm nguồn vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội cho nhóm lao động hoàn thành hợp đồng về nước đúng hạn; nâng mức cho vay tối đa đối với các dự án sản xuất kinh doanh