Chương 1 NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN 1. Khái quát về các biện pháp ngăn chặn 1. Khái niệm các biện pháp ngăn chặn Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm các BPNC. Trong Giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm “BPNC là phương pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trợ cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự” [25].
Tuy nhiên, khái niệm này chưa nêu rõ cơ quan có thẩm quyền áp dụng. Còn tác giả Nguyễn Mai Bộ thì “ BPNC là những biện pháp cưỡng chế TTHS do những cơ quan hoặc những người có thẩm quyền theo quy định pháp luật áp dụng với bị can, bị cáo và có thể với những người chưa bị khởi tố khi có căn cứ do pháp luật quy định nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoặc không cho họ tiếp tục phạm tội mới” [9]. Khái niệm này không nêu rõ các BPNC được quy định trong BLTTHS. Có quan điểm khác thì cho rằng “ Biện pháp ngăn chặn là một loại biện pháp cưỡng chế do CQĐT, VKS, TA áp dụng đối với người bị tình nghi phạm tội, đối với bị can, bị cáo và cả với người bị án khi các cơ quan này có căn cứ chorằngnhững người này sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc sẽ tiếp tục phạm tội” [50, Tr.
Tuy nhiên, quan điểm có điểm mới hơn các quan điểm trên về đối tượng bị áp dụng đó là người bị tình nghi nhưng lại không nêu được một số chủ thể khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền áp dụng. Người bị buộc tội là một khái niệm mới, được quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015, đó là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. [36] 7 Như vậy, qua các khái niệm trên có thể tổng hợp được như sau “BPNC là biện pháp cưỡng chế của nhà nước được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự do người có thẩm quyền trong các Cơ quan tiến hành tố tụng hoặc bất kỳ ai được pháp luật quy định và cho phép có quyền áp dụng đối với người bị buộc tội khi có căn cứ luật định nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự hoặc tiếp tục phạm tội”. Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn Theo quy định tại Điều 79 BLTTHS 2003( Điều 109 BLTTHS 2015) thì để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.
Các biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng xuyên suốt quá trình điều tra, truy tố xét xử vụ án hình sự. Khi cần phải kịp thời ngăn chặn tội phạm Kịp thời ngăn chặn tội phạm là ngăn ngừa không cho tội phạm đang được chuẩn bị xảy ra hoặc không cho tội phạm đang được thực hiện tiếp tục thực hiện. Do vậy căn cứ này thường được áp dụng đối với người chưa bị khởi tố bị can, trong trường hợp bị bắt quả tang theo khoản 1 Điều 82 (Khoản 1, Điều 111 BLTTHS 2015) hoặc bắt người trong người trong trường hợp khẩn cấp như ở điểm a khoản 1 Điều 81 (Hay giữ người trong trường hợp khẩn cấp như điểm a, khoản 1, Điều 110 BLTTHS 2015), khi có căn cứ xác định: Căn cứ này không thể là căn cứ áp dụng cho đối tượng áp dụng BPNC tạm giam là bị can, bị cáo, hành vi phạm tội của họ đã được thực hiện trong quá khứ. Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra 8 Người bị buộc tội theo quy định tại điểm đ khoản 1, Điều 4 BLTTHS 2015, đó là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Khi có căn cứ cho rằng người đã thực hiện hành vi phạm tội, bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Hành vi gây khó khăn cho hoạt động điểu tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thể hiện qua việc sau khi thực hiện hành vi phạm tội người phạm tội có thể bỏ trốn, tiêu hủy, làm giả hoặc thay đổi chứng cứ, xóa các dấu vết của vụ án, mua chuộc, dụ dỗ, lừa phỉnh, khống chế người làm chứng, người bị hại, thông cung.dẫn đến gây khó khăn cho việc xác định, làm rõ sự thật khác quan vụ án trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng. Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội Để nhận định cáo căn cứ chứng tỏ người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa khởi tố, bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội phải dựa vào nhiều tình tiết để đánh giá một cách tổng hợp như là: Tính chất của tội phạm mà người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa khởi tố, bị can, bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng như thế nào; Nhân thân của người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa khởi tố, bị can, bị cáo (Người đã có tiền án, tiền sự, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, là những tội phạm có tính chất chuyên nghiệp rất dễ tiếp tục phạm tội và bỏ trốn); Những biểu hiện cụ thể của người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa khởi tố, bị can, bị cáo như đe dọa, khống chế, mua chuộc người làm chứng, người bị hại, sử dụng thời gian bất minh, đi lại gặp gỡ bọn tội phạm, đe dọa trả thù người làm chứng, người bị hại, và sự đe dọa đó có khả năng trở thành hiện thực được không được ngăn chặn kịp thời. Để bảo đảm thi hành án Trong trường hợp cũng cần xét xét đầy đủ tính chất,mức độ, hậu quả hành vi của người người phạm tội (trong giai đoạn này là bị cáo, người bị kết án) đã gây ra; lai lịch, địa chỉ, nhân thân của họ, tội mà họ đã phạm phải thì Tòa án có thể áp dụng BPNC thích hợp trường hợp có khả năng bỏ trốn thì Tòa án có thể sử dụng BPNC bằng tạm giam đối với họ để đảm bảo cho việc thi hành án, còn nếu có đủ cơ sở cho rằng bị cáo sẽ không bỏ trốn, không gây cản trở khó khăn cho việc thi hành án thì 9 không cần áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mà chỉ cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn.
Mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Theo quy định tại Điều 79 Bộ luật TTHS năm 2003(Điều 109 BLTTHS 2015) thì các biện pháp ngăn chặn được áp dụng nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử hoặc hoặc để bảo đảm thi hành án. Như vậy,việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nhằm các mục đích sau đây: Ngăn ngừa tội phạm là việc: - Ngăn chặn không cho tội phạm chuẩn bị xảy ra; - Ngăn chặn không cho hành vi phạm tội đang được thực hiện tiếp tục tiếp diễn; - Ngăn chặn người phạm tội thực hiện tội phạm mới. Đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án: Các BPNC có ý nghĩa rất quang trọng trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử cũng như công tác thi hành án. Tạo điều khiện thuận lợi về mặt pháp lý, về thời, sự thuận tiện, nhanh chóng cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đảm bảo được hiểu quả, kịp thời (vì bảo đảm sự có mặt của người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo trong các hoạt động tố tụng khi cần thiết; làm cho người đã thực hiện hành vi phạm tội, bị can, bị cáo không có khả năng bỏ trốn; bảo đảm bí mật điều tra; không có điều kiện thông cung; tiêu hủy chứng cứ, mua chuộc nhân chứng .nên không gây khó khăn hoặc cản trợ các hoạt động điều tra điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn 1. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn Theo quy định tại điều 33 BLTTHS 2003 (Điều 24 BLTTHS 2015) thì Cơ quan Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS), Tòa án có thẩm quyền áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn - Đối với bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Điều 110 BLTTHS 2015) thì những ngưới sau đây có quyền ra lệnh bắt: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp; người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển,khi tàu bay,tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng (Điều 81BLTTHS năm 2003). Điều 110 BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm những người có thẩm quyền sau: Đồn trưởng đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng,Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng.