Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái niệm về dân tộc và thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số 1. Dân tộc Hiện nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa khác nhau: Theo nghĩa thứ nhất, dân tộc được hiểu là quốc gia dân tộc. Vì dụ: Dân tộc Việt Nam, Dân tộc Lào, Dân tộc Đức,… Theo nghĩa này, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng chính trị - xã hội được hợp thành bởi những tộc người khác nhau trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định.
Như vậy, khái niệm dân tộc ở đây được hiểu đồng nghĩa với quốc gia đa tộc người và cũng đồng nghĩa với Nhà nước thống nhất của các tộc người trên một lãnh thổ có chủ quyền quốc gia. Theo nghĩa này, dân cư của dân tộc này được phân biệt với dân cư của dân tộc khác bởi yếu tố quốc tịch. Theo nghĩa thứ hai, “dân tộc” được hiểu là “tộc người”. Ví dụ: dân tộc Jrai, dân tộc Ba Na, dân tộc Ê đê,.
Với nghĩa này, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng người có các đặc trưng cơ bản về ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng có tính bền vững qua sự phát triển lâu dài của lịch sử. Hiểu theo nghĩa này, kết cấu dân cư của một quốc gia có thể bao gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó có những dân tộc chiếm đa số trong thành phần dân cư và có những dân tộc thiểu số. Trong đề tài này, khái niệm dân tộc được sử dụng theo nghĩa thứ hai, tức là “tộc người” [25]. Dân tộc thiểu số Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, giải thích thuật ngữ về dân tộc thiểu số như sau: 11 Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia.
Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dân tộc thiểu số rất ít người là dân tộc có số dân dưới 10. Dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt là những dân tộc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo ba tiêu chí sau: Tỷ lệ hộ nghèo trong đơn vị thôn, bản chiếm trên 50% so với tỷ lệ hộ nghèo của cả nước; các chỉ số phát triển về giáo dục đào tạo, sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số đạt dưới 30% so với mức trung bình của cả nước; cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu chất lượng thấp, mới đáp ứng mức tối thiểu phục vụ đời sống dân cư. Chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế đối với đồng bào dân tộc dân tộc thiểu số 1.
Quan niệm về chính sách dân tộc Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan với nhau của Nhà nước với mục tiêu, giải pháp, công cụ thực hiện cụ thể, nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo ý chí của đảng cầm quyền [24]. Từ quan niệm chính sách công như vậy, có thể định nghĩa chính sách đối với dân tộc thiểu số đó là thái độ quan điểm, các quyết định, quyết sách của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số với mục tiêu, giải pháp, công cụ nhằm bảo đảm và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo giữ gìn bản sắc dân tộc, phong tục tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách đối với dân tộc thiểu số, nhưng có thể tóm lại: là một bộ phận của hệ thống chính sách quốc gia, là một vấn đề mang tính chiến lược, có tính tổng hợp các quan điểm, nguyên tắc, giải pháp của Đảng và Nhà nước trên các lĩnh vực trong nhu cầu phát triển của các 12 dân tộc. Mục tiêu, nội dung chính sách đối với dân tộc thiểu số hướng tới đảm bảo sự “bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau” của các dân tộc trong mọi giai đoạn cách mạng [41].
Chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số Chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số là hệ thống các chính sách mà qua đó trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra hoặc hỗ trợ sinh kế, cải thiện và nâng cao thu nhập, giúp ổn định cuộc sống cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, chẳng hạn: Nhà nước đầu tư vốn ngân sách để xây dựng kết cấu hạ tầng (đường giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện,.) phục vụ phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa cho các xã có đông đồng bào dân tộc thiêu số; khuyến khích tín dụng và đơn giản hoá thủ tục vay vốn để đồng bào dân tộc thiểu số vay vốn thuận tiện, sử dụng vốn hiệu quả và trả được nợ qua hệ thống Ngân hàng chính sách xã hội; hỗ trợ trực tiếp về tư liệu sản xuất (đất sản xuất, cây giống, vật nuôi, phân bón, nông cụ, …); hỗ trợ định canh định cư ổn định cuộc sống, hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm, tập huấn chuyển giao về kỹ thuật sản xuất, chế biến sản phẩm; trợ cước, trợ giá đối với việc cung ứng hàng hoá thiết yếu cho khu vực đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đồng bào DTTS bằng cơ chế, chính sách ưu đãi cụ thể về đất đai, thuế, hỗ trợ đào tạo và thủ tục đầu tư thuận lợi nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế của vùng. Một số chính sách dân tộc chủ yếu gắn với hỗ trợ phát triển kinh tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số đã và đang triển khai thực hiện như sau: - Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ. - Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020 theo Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 20/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ. 13 - Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg ngày 07/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
- Chính sách tiếp tục hỗ trợ di dân định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg ngày 04/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ. - Chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg ngày 18/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ. - Chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012-2015 theo Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ. - Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo ở xã, thôn bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
- Chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 – 2020 theo Nghị đinh số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ. - Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020 theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số Tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số là một khâu hợp thành chu trình chính sách; là quá trình biến các chủ trương, phương hướng và biện pháp liên quan đến hoạt động kinh tế của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy Nhà nước cũng như sự tham gia của các tổ chức, đơn vị, gia đình, cá nhân và toàn xã hội làm cho các nội dung công việc được triển khai theo đúng kế hoạch, hướng tới đạt được mục đích đề ra, giúp chính sách đi vào thực tế đời 14 sống, phù hợp với nhu cầu phát triển, nguyện vọng chung của đất nước và cộng đồng người dân tộc thiểu số, qua đó phát triển sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân; các nội dung cụ thể như: Tiếp nhận các chính sách từ Trung ương, tỉnh chỉ đạo các ngành chuyên môn nghiên cứu tham mưu xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện, đồng thời với công việc đó là tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách đến các cán bộ, công chức liên quan và nhân dân, nhất là các đối tượng thụ hưởng chính sách nắm bắt, thực hiện đúng quy trình quy định; tổ chức ra soát, phê duyệt đối tượng, tiếp nhận nguồn lực để tiến hành hỗ trợ; theo dõi, kiểm tra, giám sát và đôn đốc thực hiện đảm bảo tiến độ quy định, kết thúc chu kỳ chính sách tổ chức tổng kết, rút kinh nghiệm. Chủ thể thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số Chủ thể thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số là các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước từ trung ương tới địa phương, trong đó chủ yếu là các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước cùng với đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước thuộc lĩnh vực dân tộc.
Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách, các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy hành chính nhà nước giữ vai trò điều tiết, định hướng các hoạt động thực hiện chính sách bằng những công cụ quản lý của mình, giúp cho quá trình này luôn bám sát mục tiêu mà các chính sách đặt ra.