Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,72% dân số cả nước theo số liệu thống kê dân số. Tại tỉnh Gia Lai, huyện Ia Grai giữ vị trí địa bàn biên giới chiến lược phía Tây với 12 km đường biên giáp Vương quốc Campuchia. Huyện có 13 đơn vị hành chính cấp xã gồm 12 xã và 01 thị trấn với 150 thôn làng, tập trung 22 thành phần dân tộc, trong đó người dân tộc thiểu số chiếm 45,17% tổng dân số (riêng dân tộc Jrai bản địa chiếm 43,84%). Giai đoạn 2014 - 2018, kinh tế huyện duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 13,7%/năm, giá trị sản xuất năm 2017 đạt 7.420 tỷ đồng, nâng thu nhập bình quân đầu người từ 19 triệu đồng năm 2014 lên 32 triệu đồng năm 2018.

Tuy nhiên, khoảng cách phát triển giữa các nhóm dân cư vẫn hiện hữu rõ nét khi thu nhập bình quân của đồng bào thiểu số năm 2018 mới đạt khoảng 21 triệu đồng/người/năm. Đáng chú ý, tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm tới 86,7% tổng số hộ nghèo toàn huyện (tương đương 4.035 hộ trên tổng số 4.654 hộ nghèo năm 2018). Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là phân tích thực trạng tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số, làm rõ những rào cản hành chính và bất cập trong phân bổ nguồn lực. Mục tiêu của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá khách quan toàn diện việc thực thi chính sách tại 13 xã, thị trấn trong giai đoạn 2014 - 2018, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới đến năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai khung lý thuyết nền tảng trong khoa học quản lý: Lý thuyết chu trình chính sách công của Thomas Dye và James Anderson, kết hợp cùng Lý thuyết phát triển bền vững và công bằng xã hội. Theo lý thuyết chu trình chính sách, quá trình thực thi được cấu thành bởi chuỗi các mắt xích tương tác chặt chẽ gồm: xây dựng kế hoạch, phổ biến tuyên truyền, phân công phối hợp liên ngành, duy trì chính sách, điều chỉnh bổ sung cơ chế, theo dõi kiểm tra và tổng kết đánh giá. Đề tài vận dụng quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước về bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc được thể chế hóa trong Nghị quyết số 24-NQ/TW và Nghị định số 05/2011/NĐ-CP.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được làm rõ bao gồm: Dân tộc thiểu số (nhóm tộc người chiếm tỷ lệ dưới 50% dân số quốc gia theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP), Chính sách công (tập hợp các quyết định có mục tiêu, giải pháp và công cụ thực hiện của Nhà nước), Chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế đồng bào dân tộc thiểu số (hệ thống giải pháp trực tiếp và gián tiếp tạo sinh kế, tư liệu sản xuất và hạ tầng), và Tổ chức thực hiện chính sách. Cơ sở pháp lý thực tiễn gắn liền với các văn bản trọng điểm như Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg và Quyết định số 1722/QĐ-TTg (Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững), Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg (Hỗ trợ trực tiếp người nghèo vùng khó khăn), Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg (Chính sách định canh định cư), Quyết định số 755/QĐ-TTg và Quyết định số 2085/QĐ-TTg (Hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt), cùng Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg (Tín dụng ưu đãi).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp tiếp cận đa chiều kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng để đối chiếu toàn diện giữa dữ liệu quản lý nhà nước và góc nhìn thụ hưởng thực tế. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết, niên giám thống kê và hồ sơ thanh quyết toán của UBND huyện Ia Grai, Phòng Dân tộc, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê và Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện trong 5 năm từ 2014 đến 2018.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua khảo sát bảng hỏi với cỡ mẫu 50 hộ đồng bào dân tộc thiểu số thụ hưởng chính sách tại các xã và thị trấn trên địa bàn huyện vào tháng 12 năm 2018. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm hộ nghèo, cận nghèo tại 29 làng đặc biệt khó khăn. Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu và trao đổi trực tiếp với 15 cán bộ, công chức phụ trách công tác dân tộc cấp huyện và cấp xã. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và tổng hợp quy nạp là nhằm lượng hóa chính xác mức độ hài lòng, mức độ thấu hiểu chính sách của người dân, đồng thời phát hiện các điểm nghẽn trong khâu phối hợp hành chính liên ngành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững (Chương trình 135) ghi nhận tổng nguồn vốn phân bổ đạt 37.591 triệu đồng giai đoạn 2014 - 2018, với tỷ lệ giải ngân luôn đạt mức cao từ 98,23% năm 2014 lên 99,99% năm 2018. Hệ thống kết cấu hạ tầng có bước nhảy vọt: 100% số xã có đường giao thông thảm nhựa kết nối trung tâm huyện, 95% thôn làng có đường kết nối trung tâm xã, 75% đường nội thôn được cứng hóa và 100% thôn làng có điện lưới, trạm y tế, trường học kiên cố cùng nhà sinh hoạt cộng đồng.

Thứ hai, chính sách hỗ trợ trực tiếp theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg đã cấp phát 740 con bò giống cho các hộ thiếu đất sản xuất với tổng kinh phí hơn 10,7 tỷ đồng, đồng thời cung ứng 980 tấn phân bón và 3,35 tấn lúa giống, ngô giống cho 103.275 lượt khẩu với kinh phí hơn 10,8 tỷ đồng. Đàn bò giống hỗ trợ đã sinh sản thêm 252 con bê, giúp hàng trăm hộ vươn lên thoát nghèo. Tuy nhiên, hiệu quả bị ảnh hưởng khi có tới 65 con bò (trị giá hơn 1 tỷ đồng) bị chết do người dân chưa nắm vững kỹ thuật chăm sóc, nuôi nhốt.

Thứ ba, chính sách định canh định cư (Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg) đã giải ngân 10.906 triệu đồng để hỗ trợ 287 hộ (1.110 khẩu) định cư xen ghép tại 8 xã và 6.223,12 triệu đồng cho 68 hộ (300 khẩu) tại điểm định cư tập trung làng Mít Kom 1, xã Ia O. Đối với Đề án 755, huyện đã giải ngân 8.698,41 triệu đồng hỗ trợ 4.156 hộ nghèo. Đồng thời, Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện đã giải ngân 46,16 tỷ đồng nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho 1.510 lượt hộ đồng bào dân tộc thiểu số vay vốn phát triển sản xuất.

Thứ tư, công tác giảm nghèo ghi nhận chuyển biến tích cực khi tổng số hộ nghèo toàn huyện giảm từ 4.654 hộ năm 2014 xuống còn các mức thấp hơn qua các năm. Tuy nhiên, tính bền vững chưa cao khi tỷ lệ hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 86,7% tổng số hộ nghèo toàn huyện vào năm 2018.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh bức tranh đa chiều khi được tổng hợp qua bảng phân bổ ngân sách và các chỉ số đo lường hiệu quả. Việc trình bày dữ liệu theo bảng so sánh tiến độ giải ngân theo từng năm cho thấy sự quyết liệt của chính quyền địa phương, nhưng biểu đồ phân bổ cơ cấu nghèo lại chỉ ra sự tập trung đáng lo ngại của tình trạng nghèo đói trong nhóm dân tộc thiểu số. Kết quả khảo sát 50 hộ dân cho thấy 96% người dân hiểu rõ Chương trình 135 và chính sách hỗ trợ vật tư trực tiếp, nhưng chỉ có 70% hiểu về chính sách định canh định cư và 84% nắm rõ chính sách vay vốn ưu đãi. Về hình thức tuyên truyền, 98% hộ hài lòng khi cán bộ đến trực tiếp hộ gia đình, trong khi hình thức mời chuyên gia nói chuyện chỉ đạt 60% mức độ hài lòng do nội dung còn nặng lý thuyết.

Nguyên nhân của các hạn chế bắt nguồn từ việc định mức hỗ trợ trực tiếp còn thấp (khoảng 80.000 đồng/khẩu/năm), khiến hiện vật hỗ trợ nhỏ lẻ, dễ bị người dân bán lại cho thương lái. Tình trạng thiếu quỹ đất sản xuất tại địa phương khiến Đề án 755 và Đề án 2085 gặp khó khăn, buộc phải chuyển đổi sang hỗ trợ nghề cho hơn 520 hộ. Ngoài ra, việc phân cấp quản lý có thời điểm bị gián đoạn, như việc chuyển quyền làm chủ đầu tư hỗ trợ sản xuất từ cấp xã lên Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong hai năm 2017 và 2018, làm giảm tính chủ động của cơ sở. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của nhiều chuyên gia kinh tế nông thôn tại khu vực Tây Nguyên, khẳng định sự cần thiết phải gắn chính sách trợ cấp với nâng cao năng lực tự chủ và chuyển đổi tập quán canh tác của người dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu và phân cấp triệt để quy trình quản lý dự án hỗ trợ sản xuất cho cấp xã và cộng đồng dân cư. UBND huyện Ia Grai cần chỉ đạo chuyển giao 100% quyền làm chủ đầu tư các hợp phần phát triển sinh kế thuộc Chương trình 135 và Chương trình Mục tiêu Quốc gia cho UBND 13 xã, thị trấn từ giai đoạn 2020 - 2025. Cơ chế bình xét đối tượng nhận cây trồng, vật nuôi phải được thực hiện công khai 100% tại các cuộc họp thôn làng để chấm dứt tình trạng khiếu nại, đảm bảo hàng hóa cấp phát sát với nhu cầu thực tế của từng hộ gia đình.

Thứ hai, nâng cao định mức hỗ trợ tài chính và tích hợp các nguồn lực chính sách an sinh xã hội. Đề nghị HĐND và UBND tỉnh Gia Lai cùng các cơ quan trung ương xem xét nâng định mức hỗ trợ phát triển sản xuất lên mức tối thiểu gấp 2 đến 3 lần định mức cũ, chuyển từ hình thức cấp phát phân tán sang hỗ trợ có điều kiện và cho vay vốn quay vòng. Mục tiêu đặt ra là giảm tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện từ 3% đến 4%/năm trong giai đoạn 2021 - 2025, phấn đấu nâng thu nhập bình quân đầu người của đồng bào thiểu số đạt trên 35 triệu đồng/năm vào năm 2025.

Thứ ba, đổi mới phương thức khuyến nông và chuyển giao khoa học kỹ thuật phù hợp với tập quán đồng bào Jrai. Trạm Khuyến nông huyện chủ trì phối hợp với UBND các xã tổ chức tập huấn cầm tay chỉ việc trực tiếp trên đồng ruộng cho 100% hộ dân nhận bò giống và cây giống mới. Đơn vị cần thiết lập mạng lưới thú y viên thôn bản giám sát chặt chẽ dịch bệnh, đặt mục tiêu kéo giảm tỷ lệ bò giống bị chết xuống dưới 1% mỗi năm, loại bỏ hoàn toàn tình trạng thất thoát tài sản hỗ trợ.

Thứ tư, hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc. Phòng Dân tộc huyện phối hợp với Phòng Nội vụ định kỳ hàng năm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng quản lý dự án cho 100% cán bộ, công chức làm công tác dân tộc cấp xã. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ban Giám sát đầu tư cộng đồng thôn làng tại 29 làng đặc biệt khó khăn, kịp thời ngăn chặn các sai sót trong quản lý tài chính và xây dựng cơ bản.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ lãnh đạo, công chức quản lý nhà nước tại Ban Dân tộc tỉnh Gia Lai, UBND huyện Ia Grai và các phòng ban chuyên môn cấp huyện (Phòng Dân tộc, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội). Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực chứng 5 năm và hệ thống đánh giá khách quan giúp cán bộ hoàn thiện quy trình lập kế hoạch, phân bổ ngân sách và điều hành chính sách giảm nghèo sát thực tế.

Nhóm thứ hai là các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công, Xã hội học, Kinh tế phát triển và Nhân học. Tài liệu là nguồn tham khảo học thuật giá trị về phương pháp đánh giá thực thi chính sách cấp huyện, khung phân tích chu trình chính sách và mô hình xử lý dữ liệu khảo sát kết hợp định tính - định lượng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhóm thứ ba là các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức phát triển quốc tế và doanh nghiệp đang triển khai các dự án phát triển sinh kế, nông nghiệp bền vững tại Tây Nguyên. Báo cáo thực trạng và các bài học kinh nghiệm trong luận văn giúp các đơn vị xây dựng dự án tài trợ trúng nhu cầu của người dân bản địa, giảm thiểu rủi ro thất thoát nguồn lực.

Nhóm thứ tư là đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, già làng, trưởng thôn, người có uy tín trong đồng bào dân tộc và cán bộ đoàn thể cơ sở. Luận văn cung cấp các kiến thức thiết thực về quy trình công khai minh bạch, phương pháp tuyên truyền vận động nhân dân và kinh nghiệm giám sát cộng đồng đối với các công trình hạ tầng, mô hình sinh kế tại thôn bản.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số tại huyện Ia Grai vẫn chiếm tới 86,7% năm 2018?

Dù tỷ lệ nghèo chung toàn huyện giảm nhanh, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chiếm 86,7% tổng số hộ nghèo do tập quán canh tác còn lạc hậu, phụ thuộc thiên nhiên và thiếu đất sản xuất. Thêm vào đó, tâm lý ỷ lại vào chính sách trợ cấp của Nhà nước cùng với trình độ dân trí hạn chế khiến khả năng tích lũy vốn và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất của nhiều hộ dân chưa cao.

Chương trình 135 đã đem lại hiệu quả cụ thể nào cho hạ tầng huyện Ia Grai giai đoạn 2014 - 2018?

Với 37.591 triệu đồng được phân bổ và tỷ lệ giải ngân đạt trên 98% đến 99,99%, Chương trình 135 đã giúp 100% số xã có đường nhựa đến trung tâm huyện, 95% thôn làng có đường kết nối trung tâm xã, 75% đường nội thôn được cứng hóa, đồng thời 100% thôn làng được phủ điện lưới quốc gia, có trạm y tế và trường học kiên cố.

Nguyên nhân nào khiến 65 con bò giống cấp cho người dân theo Quyết định 102 bị chết?

Khoảng 65 con bò giống bị chết (chiếm gần 8,8% tổng số 740 con cấp phát) xuất phát từ việc một số hộ dân chưa tuân thủ quy trình nuôi nhốt, thiếu chuồng trại đảm bảo vệ sinh và chưa tiêm phòng dịch bệnh đầy đủ. Công tác tập huấn kỹ thuật chăn nuôi của chính quyền cơ sở ở một số thời điểm chưa sâu sát, dẫn đến việc người dân lúng túng khi thời tiết thay đổi.

Khó khăn lớn nhất khi thực hiện Đề án 755 về hỗ trợ đất sản xuất tại Ia Grai là gì?

Khó khăn lớn nhất là quỹ đất nông nghiệp công của địa phương hầu như đã cạn kiệt, không còn đủ để khai hoang cấp mới cho các hộ dân thiếu đất. Do đó, huyện phải linh hoạt chuyển đổi hình thức hỗ trợ sang đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm cho 520 hộ và tập trung hỗ trợ nước sinh hoạt cùng vốn vay ưu đãi để người dân mua sắm ngư lưới cụ, nông cụ sản xuất.

Chính sách tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội đã hỗ trợ đồng bào như thế nào?

Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện đã giải ngân 46,16 tỷ đồng cho 1.510 lượt hộ đồng bào vay vốn ưu đãi để đầu tư phân bón, máy móc và mở rộng quy mô trồng cây công nghiệp như cà phê, điều, cao su. Nguồn vốn này đã góp phần trực tiếp nâng thu nhập bình quân người dân tộc thiểu số từ 12 triệu đồng năm 2014 lên 21 triệu đồng năm 2018.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung phân tích chu trình chính sách công trong lĩnh vực hỗ trợ phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số cấp huyện.
  • Đánh giá chi tiết kết quả thực thi các chính sách trọng điểm giai đoạn 2014 - 2018 tại Ia Grai với nguồn vốn Chương trình 135 đạt 37.591 triệu đồng, vốn vay tín dụng chính sách đạt 46,16 tỷ đồng và hỗ trợ trực tiếp hàng chục tỷ đồng vật tư giống cây trồng, vật nuôi.
  • Nhận diện trực diện các điểm nghẽn thực tiễn như tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số còn chiếm 86,7%, tình trạng thiếu quỹ đất sản xuất, hao hụt 65 con bò giống và các bất cập trong khâu phân cấp quản lý đầu tư tại cơ sở.
  • Đề xuất hệ sinh thái giải pháp đồng bộ gồm 4 nhóm nhiệm vụ: phân cấp tự chủ ngân sách cho cấp xã, nâng định mức hỗ trợ gắn với cho vay quay vòng, đổi mới khuyến nông thực hành và tăng cường giám sát cộng đồng trong giai đoạn 2020 - 2025.
  • Kêu gọi các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các nhà nghiên cứu tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn quản trị công, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng vững chắc tại vùng biên giới Tây Nguyên.