Chương 1. Những vấn đề l luận về thực hiện chính sách bình đẳng giới. Thực trạng thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Định hướng và giải pháp thúc thực hiện chính sách bình đẳng giới từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI 1. Các khái niệm bình đẳng giới và chính sách bình đẳng giới 1. Khái niệm bình đẳng giới Khái niệm bình đẳng giới lần đầu tiên xuất hiện trong ông u ớc về Xóa b tất cả các hình thức phân bi t đối x chống lại phụ nữ năm 1981 (The Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination Against Women - CEDAW) [30] và từ đó đến nay, khái niệm này trở thành một khái niệm cốt lõi trong các chính sách và chương trình nghị sự về bình đẳng giới. Ở Việt Nam, thuật ngữ bình đẳng giới cũng được nhà nước ghi nhận từ rất sớm.
Hai tháng kể từ sau ngày ông u ớc về Xóa b tất cả các hình thức phân bi t đối x chống lại phụ nữ được thông qua, Việt Nam phê chuẩn công ước này [2]. Tuy nhiên trước đó, tư tưởng bình đẳng giới được đề cập rất sớm trong Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946 [17]. Trong Hiến pháp năm 1946, quan điểm bình đẳng giới đã được thể hiện bằng nguyên tắc “không phân biệt giống nòi, gái trai” và đã quy định: “Tất cả các công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội” (Điều 6) và “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) [15]. Qua các lần sửa đổi Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và đặc biệt, tại Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, tư tưởng bình đẳng giới tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ tại Điều 26 [21].
- Công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. 8 - Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. - Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.
Từ việc được ghi nhận trong Hiến pháp, tư tưởng bình đẳng giới tiếp tục được cụ thể hoá bằng các chính sách pháp luật của Nhà nước như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề, Luật Giáo dục, Luật Khoa học và công nghệ, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Cư trú, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật cán bộ công chức, … và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như các nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành. Bên cạnh đó, để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, Chính phủ đã có nhiều giải pháp như ban hành các chính sách đặc thù; lồng ghép vào các chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia như: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo (CPRGS), Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, về việc làm, về bảo hộ lao động, về giáo dục, về dạy nghề, về y tế cộng đồng; nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình đã có những quy định riêng cho phụ nữ, tạo điều kiện đảm bảo cho viêc thực hiện bình đẳng giới một cách thực chất; thành lập Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, ban hành Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010,. Đặc biệt, ngày 29 tháng 11 năm 2006, Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khoá XI thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 [22]. Luật Bình đẳng giới tiếp tục thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nam và nữ; đồng thời tiếp tục khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam 9 trong việc cụ thể hoá và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người và bình đẳng giới mà Việt Nam là thành viên.
Với hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện phù hợp với đặc điểm, tình hình của đất nước, nhận thức xã hội về bình đẳng giới ngày càng được nâng cao, góp phần đảm bảo sự bình đẳng trong đời sống xã hội cũng như của cộng đồng dân cư. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới thì: “Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới… là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xoá b khoảng cách giới trong hai mươi năm qua ở khu vực Đông Á” [15]. Về mặt nghiên cứu khoa học, là khái niệm trung tâm trong phong trào giới, bình đẳng giới được hiểu tương đối thống nhất. Theo Bùi Thị Kim Cúc [6, tr.15], “bình đẳng giới là tình trạng (điều kiẹ n sống, sinh hoạt, làm viẹ c.) mà trong đó phụ nữ và nam giới đu ợc hu ởng vị trí nhu nhau, họ có co họ i bình đẳng để tiếp cạ n, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiẹ n và phát triển tiềm na ng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và đu ợc hu ởng lợi từ sự phát triển đó”.
Về mặt pháp lý, Luật Bình đẳng giới có hiệu lực ngày 01/7/2007 cũng cho rằng “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” (Khoản 3, Điều 5)[22]. Nhìn chung, những khái niệm về bình đẳng giới đều có những điểm nhấn thống nhất với nhau: bình đẳng giới không phải là tình trạng cào bằng giữa nam và nữ, không phải nam có gì, nữ cũng phải có đó và ngược lại. Trọng 10 tâm của bình đẳng giới là cơ hội. Đó là sự ngang nhau về điều kiện để hưởng các cơ hội ở mọi khía cạnh, lĩnh vực của cuộc sống.
Nhờ vào đó mà nam cũng như nữ đều có thể phát triển mà không bị cản trở bởi bất kì tác nhân nào trong xã hội. Tóm lại, trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm được ghi nhận trong Luật Bình đẳng giới, “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”. Khái niệm thực hiện chính sách bình đẳng giới Theo các tác giả Nguyễn Hữu Hải và Lê Văn Hoà [11, tr.334], sau khi một vấn đề chính sách công được đưa vào chương trình nghị sự, các phương án giải quyết vấn đề chính sách được đề xuất, nhà nước lựa chọn phương án. Kết thúc quá trình này là đưa phương án đó vào thực tiễn.
Theo hai tác giả này, “thực thi chính sách công bao gồm các hoạt động có tổ chức được chính phủ thực hiện hướng tới đạt được các mục đích và mục tiêu được tuyên bố trong chính sách”. Nói cách khác, đây là quá trình biến đồ của chính sách thành hiện thực, là giai đoạn được các nhà nghiên cứu gọi là hiện thực hoá các mục tiêu của chính sách. Thực thi còn là quá trình khẳng định, kiểm chứng lại xem một chính sách công do nhà nước đề ra có đúng đắn hay không hoặc đúng đắn ở mức nào. Quá trình thực hiện chính sách là giai đoạn phản biện chính sách, là giai đoạn giúp cho chính sách công ngày càng hoàn thiện hơn [11, tr.
Một khi chính sách được hình thành, cơ quan ban hành tiếp tục tìm cách thức để tổ chức và triển khai nó vào thực tế để tạo ra các kết quả thực sự 11 nhằm mang lại lợi ích cho kinh tế - xã hội. Đối với chính sách bình đẳng giới, việc thực hiện chính sách này chính là hướng tới mình đích giảm bớt tình trạng bất bình đẳng, hình thành nên một bức tranh bình đẳng về giới một cách thật sự và đúng bản chất. Nói cách khác, thực thi chính sách bình đẳng giới là quá trình triển khai các nội dung về bình đẳng giời được ghi nhận trong các Nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở các cấp vào thực tế để làm cho nam và nữ có vị trị, vai trò ngang nhau trong các hoạt động, lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Đồng thời đảm bảo cả nam và nữ được tạo điều kiện và cơ hội phát triển năng lực của họ cũng như cơ hội hưởng thụ như nhau từ thành quả của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Các yêu cầu thực hiện chính sách bình đẳng giới Bình đẳng là một chính sách xã hội rộng lớn có liên quan đến tất cả các ngành các cấp và toàn bộ các lĩnh vực của đời sống chính trị xã hội [28], chính vì vậy mà việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải tuân thủ và đảm bảo một số yêu cầu sau: Thứ nhất, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo yêu cầu có sự tham gia rộng rãi của mọi đối tượng và thành phần trong xã hội. Yêu cầu này xuất phát từ bản chất của vấn đề bình đẳng giới là liên quan đến xã hội, đến nhận thức của các đối tượng trong xã hội. Kết quả của việc tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới không nằm ở số lượng các văn bản được ban hành, số buổi tuyên truyền được tổ chức thực hiện, cũng như số tài liệu về bình đẳng giới được ấn hành, mà nằm ở chính sự thay đổi nhận thức của người dân về giới và bình đẳng giới. Chính vì vậy, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải bắt nguồn và đi lên từ người dân, các đối tượng trong xã 12 hội, phải xem họ là một lực lượng chính, quan trọng nhất, tương tác mạnh nhất trong việc thực hiện chính sách này [12].
Thứ hai, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo yêu cầu lồng ghép trong các chương trình chính sách và hoạt động của các ngành các cấp.