Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 1. Các khái niệm cơ bản 1. An sinh xã hội ASXH luôn được coi là một trong những vấn đề cốt lõi của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể có quan niệm khác nhau đối với sự phát triển hệ thống ASXH.
ASXH là khái niệm có nội dung rộng và ngày càng được hoàn thiện về phạm vi, đối tượng và chức năng trong việc hỗ trợ người dân đối phó có hiệu quả với các nguy cơ mất việc làm, giảm thu nhập do thiên tai, tai nạn lao động, ốm đau và tuổi già. ASXH theo quan niệm của một số tổ chức quốc tế cũng có mức độ rộng, hẹp và đối tượng hướng tới khác nhau, cụ thể như sau: Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): ASXH là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm sức sống hoặc cải thiện mức sống thấp. Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh phân phối phúc lợi, bảo hiểm và mở rộng việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức [49]. Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua BHYT; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội [26].
Tác giả Mai Ngọc Cường (2009), lại cho rằng, để thấy hết được bản chất, phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này. Theo nghĩa rộng: ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được an bình, hạnh phúc, xã hội ổn định, phát triển [9, tr. Qua các tài liệu nghiên cứu có thể hiểu bản chất ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân nhằm tạo ra sự an toàn sinh sống 10 cho mọi thành viên trong xã hội. ASXH là trách nhiệm của xã hội trong việc bảo vệ đối với các thành viên của mình, đồng thời đối với Việt Nam trong ASXH có thêm chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, là sự tri ân những người hy sinh cho độc lập, cho tự do của dân tộc, đó là tính đặc thù trong ASXH ở nước ta.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm ASXH được là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Quan điểm về ASXH ở Việt Nam hiện nay, theo các nhà khoa học cũng như những người hoạch định chính sách chưa có một định nghĩa thống nhất, có người ủng hộ quan điểm về ASXH mà ILO công bố, có người lại đưa thêm quan điểm thực hiện ASXH nhất thiết phải thực hiện hình thức ưu đãi xã hội, nhưng cũng có người lại cho rằng ASXH ở Việt Nam phải đặc biệt chú trọng đến công tác cung cấp dịch vụ công. và có quan điểm cho rằng giảm nghèo cũng là phạm vi của chương trình ASXH. Chính sách an sinh xã hội Chính sách ASXH được hiểu là hệ thống chủ trương, phương hướng và biện pháp đảm bảo thu thập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế xã hội và tự nhiên làm cho họ giảm nhẹ hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa [9, tr.
Chính sách ASXH có nhiều vai trò khác nhau, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả phân tích và làm rõ 3 vai trò chính như sau: 11 Thứ nhất, tăng cường các cơ hội có việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững cho người lao động yếu thế, người dân yếu thế thông qua hỗ trợ cá nhân và hộ gia đình phát triển sản xuất, hỗ trợ tín dụng, giải quyết việc làm và kết nối thông tin thị trường lao động. Thứ hai, hỗ trợ thường xuyên đối với người có hoàn cảnh đặc thù và hỗ trợ đột xuất cho người dân khi gặp các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, thiên tai, động đất, chiến tranh, đói nghèo,.) thông qua các khoản tiền mặt và hiện vật do ngân sách nhà nước bảo đảm. Thứ ba, tăng cường tiếp cận của người dân đến hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản, như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, thông tin [9] [22]. Thực hiện chính sách an sinh xã hội Trên cơ sở nghiên cứu, kế thừa kết quả những công trình đã được nghiên cứu, các khái niệm về ASXH và khái niệm chính sách ASXH, có thể quan niệm về thực hiện chính sách ASXH như sau: Thực hiện chính sách ASXH là tổng thể các hoạt động của toàn xã hội dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm huy động, hình thành và sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực vật chất, tài chính cho các đối tượng được hưởng chính sách ASXH, để tạo điều kiện cho họ đảm bảo, nâng cao mức sống vật chất, văn hóa, tinh thần và tái sản xuất sức lao động [9, tr.
Từ khái niệm trên, cần hiểu thực hiện chính sách ASXH theo nghĩa đầy đủ là công việc của toàn xã hội trên một lĩnh vực rất rộng lớn, phức tạp và quan trọng của toàn bộ đời sống xã hội. Mục đích của thực hiện chính sách ASXH: Đó là hoạt động mà mục tiêu cao cả của nó là vì cuộc sống hạnh phúc và 12 các quyền con người trong chế độ ta. Cho nên thực hiện chính sách ASXH không phải là sự ban phát hay đem đến cho đối tượng nào đó được hưởng thụ những giá trị vật chất mang tính tạm thời giống như một sự cứu trợ vì lý do của những hoàn cảnh không may mà đây là hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội mang tính nhân văn hết sức sâu sắc. Nếu xét trong quá trình tái sản xuất xã hội thì nó thuộc về quá trình tái sản xuất sức lao động và tái sản xuất các quan hệ sản xuất xã hội.
Rõ ràng thực hiện chính sách ASXH phản ảnh bản chất của một chế độ kinh tế - xã hội nhất định. Bởi vậy, ở nước ta thực hiện chính sách ASXH được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, là sự nghiệp của toàn dân mà đối tượng được hưởng là mọi công dân Việt Nam. Tất nhiên tùy theo hoàn cảnh, điều kiện khác nhau việc thực hiện chính sách ASXH đối với từng đối tượng cụ thể sẽ có những nội dung và sự quan tâm không giống nhau. Để xây dựng hoàn thiện hệ thống các giải pháp về thực hiện chính sách ASXH, không thể không tiếp cận theo phương pháp trong cách nhìn nhận đánh giá [12, tr.
Các chính sách an sinh xã hội của Việt Nam 1. Chính sách Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Bảo hiểm là sự bảo đảm thay thế hay bù đắp một phần thu nhập của người dân khi họ gặp rủi ro trong đời sống (sức khỏe, tai nạn, mùa màng…) thông qua việc đóng thường xuyên một khoản tiền (phí bảo hiểm) cho tổ chức (nhà nước hoặc tư nhân) tương ứng với xác xuất xảy ra và chi phí của rủi ro liên quan đến chu kỳ sống của người lao động và gia đình họ. Chính sách BHXH tốt đóng vai trò tích cực cho sự phát triển ổn định kinh tế - xã hội, mang đến trạng thái an toàn về tinh thần, giảm bớt sự lo âu trước rủi ro, bất trắc cho người được bảo hiểm; giảm sức ép đối với hệ thống phúc lợi xã hội; chính sách BHXH bao gồm các chế độ hưu trí, mất sức lao 13 động; ốm đau, thai sản, tại nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tử tuất. Tuy nhiên, chế độ ốm đau lại được giải quyết chủ yếu thông qua chính sách BHYT bắt buộc và số lượng tham gia không lớn, do vậy vẫn có trụ cột thứ ba là BHYT với phạm vi rộng hơn so với BHYT bắt buộc.
Cấu phần BHXH bao gồm: BHYT; BHXH tự nguyện; BHXH bắt buộc; bảo hiểm thất nghiệp [12, tr. BHYT là loại bảo hiểm do Nhà nước, hoặc do các công ty Bảo hiểm cung cấp, được tổ chức quản lý chặt chẽ, nhằm huy động sự đóng góp của các cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân trong những trường hợp cần đến y tế khi gặp các vấn đề sức khỏe. BHYT là một chính sách ASXH quan trọng do Nhà nước tổ chức thực hiện không nhằm mục đích lợi nhuận. BHYT là một trong các hoạt động nhân đạo nhất của Nhà nước, cộng đồng với mục đích chia sẻ rủi ro về mặt sức khỏe, thể hiện sự hỗ trợ tương thân, tương ái “lá lành đùm lá rách” trong chăm sóc sức khỏe giữa người giàu với người nghèo, giữa người đang thuận lợi về sức khỏe với người ốm đau và rủi ro về sức khỏe, giữa người đang độ tuổi lao động với người già và trẻ trong xã hội.
Nằm trong hệ thống ASXH nên BHYT cũng mang một mục đích sâu xa “là một nhân tố ổn định kinh tế vĩ mô vừa là nhân tố động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội”. BHYT là chính sách đóng góp ba bên (do Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động cùng đóng góp). Với bất cứ đối tượng tham gia vào 1 tổ chức, cơ quan sử dụng lao động nào thì đơn vị đó cũng phải có nghĩa vụ chi trả 1 phần BHYT của người lao động, đó là quyền lợi đã được nhà nước quy định rõ ràng. Hiện nay, việc thực hiện chế độ BHYT được thực hiện Luật số 46/2014 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT đã được Quốc hội khóa 13 thông qua.