CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 1. Khái quát chung về chính sách an sinh xã hội 1. Khái niệm chính sách an sinh xã hội ASXH là khái niệm được ra đời từ cuối thế kỷ XIX ở các nước công nghiệp phát triển và hiện nay đã phát triển rộng khắp trên toàn cầu. Roosevelt (1953), thì Chính phủ cần thiết lập một hệ thống chuyển khoản để người lao động, người trẻ có thể trợ giúp người già, người về hưu và nhữngngười gặp phải các rủi ro khác như thất nghiệp, khuyết tật, nghèo, tử vong.
Ở Việt Nam, lĩnh vực ASXH được nhiều học giả, nhà nghiên cứu quan tâm, qua đó khái niệm về ASXH được các tác giả đưa ra gắn liền với thực hiện chính sách ASXH trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Trong cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, an sinh xã hội được quan niệm: ASXH là một hệ thống chính sách của Nhà nước và là các giải pháp nhằm bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân, người gặp khó khăn trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân [26, tr. Trong “Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 - 2020” ghi nhận: “ASXH là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”. [10] Có nhiều cách tiếp cận để phân tích hệ thống cấu trúc của ASXH, tùy 11 thuộc vào mục đích, phương pháp tiến cận nghiên cứu để đưa ra được những cấu trúc khác nhau: Thứ nhất, những chính sách, chương trình phòng ngừa rủi ro xã hội cho các đối tượng đặc biệt của xã hội.
Đây là nền tảng trên cùng của hệ thống ASXH, gồm những chính sách, chương trình về thị trường lao động tích cực như đào tạonghề, hỗ trợ tìm việc hoặc tự tạo việc làm và đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động. Thứ hai, những chính sách, chương trình ASXH giúp giảm thiểu rủi ro, gồm các chiến lược giảm thiểu thiêt hại do rủi ro của hệ thống ASXH, các hình thực biểu hiện của chính sách này là các loại hình bảo hiểm như BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp… Các loại hình bảo hiểm này giúp các đối tượng có thể hưởng những chế độ cơ bản nhất của chính sách an sinh xã hội trong trường hợp gặp những rủi ro của cuộc sống. Thứ ba, những chính sách, chương trình của hệ thống ASXH hiện nay cần khắc phục rủi ro, bao gồm các chính sách về cựu trợ, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội là tầng cuối cùng của hệ thống ASXH của các quốc gia với chức năng bảo đảm an toàn cho các thành viên yếu thế của xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân không tự khắc phục được như: thất nghiệp, người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người nghèo… [26] [8]. Các chính sách xã hội cơ bản gồm chính sách dân số, chính sách gia đình, chính sách sức khỏe, chính sách giáo dục, chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; chính sách đối với các giới, chính sách an sinh xã hội… Tác giả Nguyễn Văn Chiều, trong cuốn “Chính sách ASXH và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam”, đã đưa ra quan niệm của mình về vấn đề này: Chính sách ASXH là những biện pháp 12 bảo vệ của Nhà nước nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục những rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm dau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì nguyên nhân khách quan khác thông qua các chính sách BHYT, BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội [9, tr.
Từ những quan niệm trên, trong phạm vi luận văn, chính sách ASXH có thể hiểu là hệ thống chủ trương, phương hướng và biện pháp đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa. Vai trò của chính sách an sinh xã hội Hệ thống chính sách ASXH là một trong những cấu phần, thành phần quan trọng trong chương trình, chính sách xã hội, và là bộ phận của phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, địa phương và là công cụ quản lý nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, chính sách và chương trình ASXH.Chính sách ASXH có những vai trò cơ bản sau: Thứ nhất, chính sáchASXH lấy con người làm trung tâm, coi quyền con người, bảo vệ con người trước các biến cố rủi ro xảy ra. Con người vừa là động lực của sự phát triển xã hội, vừa là mục tiêu của việc xây dựng xã hội [19, tr. Thứ hai, ASXH vừa tạo điều kiện cơ bản và thuận lợi giúp cho các đối tượng đặc biệt có cơ hội để phát huy hết thế mạnh của cá nhân đồng thời thể hiện thái độ, trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo ra cơ hội giúp họ hoà nhập vào cộng đồng.
Điều này được thể hiện rất rõ trong việc các cơ quan 13 quản lý nhà nước, tổ chức xã hội đã hỗ trợ các đối tượng đặc biệt các kỹ năng sống, các kiến thức nghề nghiệp, tuyên truyền phổ biến thông qua các lớp ngoại khóa… giúp các đối tượng đặc biết hiểu rõ bản thân, không còn thiếu tự tin, dễ dàng hòa nhập vào với cuộc sống thông qua sự giúp đỡ của cộng đồng. Thứ ba, ASXH góp phần ổn định phát triển và tiến bộ xã hội. Mục tiêu cơ bản của ASXH là tạo một môi trường công bằng cho các tầng lớp dân cư, cho người nghèo, cho người lao động, cho các đối tượng gặp biến cố rủi ro tham gia. ASXH phải thực sự là công cụ phát triển tiến bộ xã hội.
Ngoài việc giảm bớt, hạn chế những khó khăn cho đối tượng nghèo đói, ASXH còn phải đa dạng hoá các hình thức hoạt động khác nhau đối với các đối tượng khác nhau để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Thứ tư, ASXH thể hiện truyền thống tương thân tương ái, đoàn kết giúp đỡ nhau của cộng đồng. Trên cơ sở sự liên kết, hợp tác của cộng đồng những rủi ro hoạn nạn được chia sẻ, đây là yếu tố phát huy sức mạnh của cộng đồng, phát huy giá trị truyền thống của dân tộc ta.Điều này thể hiện tinh thần “lá lành đùm lá rách”, các cơ quan, tổ chức của nhà nước chủ trì các hoạt động hỗ trợ các đối tượng đặc biệt và thông qua các tổ chức này các tổ chức, cá nhân thiện nguyện có kênh để hỗ trợ, giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh đó, việc hỗ trợ của cộng đồng còn thể hiện trong việc bao bọc, giúp đỡ trong cuộc sống hàng ngày… Hơn nữa, các hoạt động ASXH còn được xã hội hóa thông qua sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ, các nhóm thiện nguyện… Thứ năm, ASXH góp phần phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giữa những người lao động làm công ăn lương, giữa những người có công với nước, giữa những người gặp khó khăn, biến cố rủi ro, giữa những người nghèo, người già cô đơn không nơi nương tựa… Bằng luật pháp và các chính sách cụ thể khác, nhà nước có thể tạo ra cơ chế, hành lang pháp luật để thực 14 hiện các sự chăm lo, hỗ trợ các đối tượng đặc biệt trong xã hội, như trẻ em, người già yếu, người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, bà con vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn… Chẳng hạn, chính sách về y tế, giáo dục, bảo hiểm xã hội… Chính sách ASXH giúp Nhà nước thực hiện chức năng công bằng xã hội, giúp xóa đói giảm nghèo thông qua các chương trình trợ giúp đối với những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Hơn nữa, việc phân phối thu nhập này sẽ giúp một số đối tượng có khả năng phát huy năng lực bản thân và tiếp tục hòa nhập cộng đồng và đóng góp công sức của mình cho xã hội. Nội dung chính sách an sinh xã hội Đối với nước ta, hệ thống ASXH được xác định gồm 04 trụ cột cơ bản và là cơ sở quan trọng của chính sách ASXH: Thứ nhất, chính sách đảm bảo việc làm, tạo thu nhập và giảm nghèo. Người yếu thế thông thường không có nhiều cơ hội tiếp cận được việc làm tốt, với thu nhập ổn định và điều kiện làm việc tốt. Những nguyên nhân cơ bản là trình độ học vấn thấp, sức khỏe kém, ít thông tin về thị trường lao động, hạn chế về năng lực mặc cả, đàm phán.
Trong điều kiện hiện nay, của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, biến động cung - cầu lao động trên thị trường lao động xảy ra thường xuyên, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của lao động ngày càng tăng. Do vậy, tạo nhiều cơ hội việc làm, thu nhập cao và ổn định thông qua đào tạo nghề, vốn vay tạo việc làm, tiếp cận thông tin thị trường lao động để tìm được việc làm và nâng cao thu nhập là giải pháp xoá đói giảm nghèo, bảo đảm việc làm, hiệu quả và bền vững.