Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giải quyết vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm, đối tượng, phạm vi và đặc điểm của thực hành quyền công tố trong giải quyết vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm và ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong giải quyết vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
- Khái niệm thực hành quyền công tố: Khi nói đến khái niệm thực hành quyền công tố là nói đến phạm trù thực tiễn, tức là nói đến các hoạt động c9ụ thể và những nhiệm vụ, quyền hạn của VKS để tổ chức và thực hiện quyền công tố do nhà nước giao cho. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 thì khái niệm thực hành quyền công tố được hiểu như sau: thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. - Khái niệm thực hành quyền công tố trong việc giải quyết vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là một trong số các tội phạm sử dụng công nghệ cao do đó khi thực hiện hành vi phạm tội có tính đặc thù riêng và có những đặc tính chung.
7 Chính vì vậy, khái niệm thực hành quyền công tố cũng vừa có cái chung vừa có cái riêng do đó có thể đưa ra khái niệm như sau: thực hành quyền công tố trong việc giải quyết vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là hoạt động của VKSND sử dụng các quyền năng pháp lý được quy định trong luật tổ chức VKSND và BLTTHS để thực hiện việc buộc tội nhà nước đối với người sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được bắt đầu từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án. - Mục đích và ý nghĩa thực hành quyền công tố trong việc giải quyết vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là bảo đảm: Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, người phạm tội, không làm oan người vô tội; Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái pháp luật. Đối tượng và phạm vi của thực hành quyền công tố trong việc giải quyết vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản - Đối tượng của thực hành quyền công tố: căn cứ vào quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 thì đối tượng của chức năng thực hành quyền công tố của VKSND là tội phạm và người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi phạm tội. Để bảo đảm việc buộc tội đúng người, đúng tội, trong quá trình sử dụng các quyền năng pháp lý do pháp luật quy định, VKS phải bảo đảm hoạt động giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, các hoạt động khởi tố, điều tra, thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ chứng minh có hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện 8 một hoặc nhiều hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 290 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Người thực hiện hành vi đó có đủ năng lực trách nhiệm hay không, trên cơ sở đó ra quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và thực hiện sự buộc tội người đó tại phiên tòa. - Phạm vi của thực hành quyền công tố: theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 thì phạm vi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bắt đầu từ khi CQĐT giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và kết thúc khi Tòa án ra bản án có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp vụ án bị đình chỉ điều tra trong giai đoạn điều tra, đình chỉ vụ án ở giai đoạn truy tố, đình chỉ vụ án ở giai đoạn xét xử thì thực hành quyền công tố của VKS kết thúc khi có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án. Đặc điểm của thực hành quyền công tố trong việc giải quyết vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Thứ nhất, khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử đòi hỏi KSV phải nhận thức đúng đắn và nắm vững chứng cứ điện tử và sử dụng chứng cứ điện tử khi làm phương tiện chứng minh tội phạm và người phạm tội.
Để bảo đảm thực hiện có hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì vấn đề có ý nghĩa quyết định là KSV phải nhận thức được giá trị chứng minh của loại chứng cứ có tính đặc thù của loại tội phạm này như sau: Phương tiện chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội là chứng cứ. Tuy nhiên do đặc điểm riêng biệt của loại tội phạm này là không thể chứng minh bằng các chứng cứ thông thường mà phần lớn phải chứng minh bằng chứng cứ là dữ liệu điện tử. Ngoài việc phát hiện, thu thập, bảo quản hết sức khó khăn, đòi hỏi Điều tra viên, KSV phải có những kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu đối 9 với tội phạm này đặc biệt là phải nắm vững các quy định đặc thù về dấu vết điện tử, khả năng truy nguyên, cách thức thu thập, ghi nhận (ghi nhận bằng chụp ảnh, vẽ sơ đồ, phản ánh vào biên bản…), bảo quản, phục hồi, phân tích, đánh giá, sử dụng loại chứng cứ này. Khoa học lập pháp cần phải phát triển đồng thời cùng với khoa học công nghệ để quy định và thừa nhận những loại chứng cứ mới có khả năng chứng minh tội phạm sử dụng công nghệ cao đó là chứng cứ là dữ liệu điện tử.
Thực tiễn đấu tranh phòng chống loại tội phạm mới này cho thấy mặc dù đây là loại dấu vết, loại chứng cứ mới nhưng nó có đầy đủ các thuộc tính cơ bản của chứng cứ nói chung đó là tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp (thu thập theo đúng trình tự thủ tục tố tụng hình sự). Trong thực tế, mỗi lần phạm tội, đối tượng phạm tội đều để lại một dấu vết điện tử nào đó trên mạng, trong máy tính một cách khách quan không phụ thuộc vào mong muốn che giấu chủ quan của người thực hiện hành vi phạm tội. Những dấu vết này phản ánh một hoạt động nào đó trong quá trình hoạt động phạm tội. Đối với những dấu vết khác không phản ánh, không liên quan đến quá trình phạm tội đã xảy ra thì không được coi là chứng cứ.
Chính vì vậy nhiệm vụ của CQĐT là phải phát hiện, ghi nhận, thu thập, bảo quản và thể hiện được dấu vết đó dưới dạng một loại chứng cứ nào đó (tài liệu, vật chứng là công cụ phạm tội, kết luận giám định) được pháp luật thừa nhận. Chính những thuộc tính này làm cho chứng cứ là dữ liệu điện tử chứa đựng thông tin về tội phạm và người phạm tội có giá trị chứng minh trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Chứng cứ là dữ liệu điện tử có liên quan đến vụ án dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được lưu trong máy tính hoặc các thiết bị có bộ nhớ kỹ thuật khác. Những chứng cứ điện tử có thể thu thập được để chứng minh hành vi phạm tội bao gồm: những chứng cứ điện tử do máy tính tự động tạo ra “cookies”, URL, Email logs, Webser logs; những thông tin điện tử do con người tạo ra được lưu giữ trong máy tính hoặc thiết bị điện tử khác như các văn bản, băng biểu, các hình ảnh thông tin, … được lưu giữ dưới dạng kỹ thuật số để thu thập được những chứng cứ điện tử này cần sử dụng những kỹ thuật công nghệ máy tính phần mềm phù hợp để có thể phục hồi lại những “Dấu vết điện tử” đã bị 10 xóa, bị ghi đè, những dữ liệu tồn tại dưới dạng ẩn, đã mã hóa, những phần mềm mã nguồn được cài đặt dưới dạng ẩn để làm cho nó có thể đọc được, ghi lại được để sử dụng làm chứng cứ pháp lý Thứ hai, Khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản KSV phải nắm vững và hiểu biết về phương pháp phát hiện, ghi nhận, thu giữ, bảo quản dấu vết điện tử và vật chứng.