Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự * Khái niệm quyền công tố Khái niệm quyền công tố đã xuất hiện, tồn tại từ lâu trong lịch sử nhà nƣớc và pháp luật và đến nay đã đƣợc hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận là một chế định pháp lý độc lập. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, VKSND THQCT và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp, đây là chức năng hiến định, đã đƣợc sử dụng từ lâu trong các văn bản pháp lý của nƣớc ta và cũng đƣợc định hƣớng cho giai đoạn cải cách tƣ pháp hiện nay.
Tuy nhiên, về mặt khoa học pháp lý và ngay cả trong thực tiễn hoạt động của VKSND chƣa có sự thống nhất về khái niệm, chủ thể, nội dung, đối tƣợng và phạm vi của quyền công tố, do vậy trên thực tế vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến vấn đề này. Theo từ điển tiếng Việt, "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trƣớc Tòa án" [30, tr.204], từ điển Luật học định nghĩa về quyền công tố là "quyền buộc tội nhân danh Nhà nƣớc đối với ngƣời phạm tội" [33, tr. Trong khoa học nghiên cứu pháp lý, có thể kể đến một số quan điểm nổi bật nhƣ sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan điểm thứ nhất: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội” [35, tr. Quan điểm thứ hai: Cho rằng: Quyền công tố là quyền của Nhà nƣớc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội; quyền này giao cho một cơ quan thực hiện (ở nƣớc ta là cơ quan VKS).
Để làm đƣợc điều này, cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và ngƣời đã thực hiện hành vi phạm tội. Trên cơ sở đó truy tố bị can ra Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trƣớc phiên tòa [27, tr. Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là “quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan để xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật” [31, tr. Có thể thấy, qua những quan điểm nêu trên chƣa có sự thống nhất về khái niệm quyền công tố: Có những quan điểm chƣa xác định đúng chủ thể của quyền công tố, mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi của quyền công tố… Mỗi quan điểm đều có những hạt nhân hợp lý, nhƣng vẫn tồn tại những hạn chế nhất định.
Từ những quan điểm nêu trên có thể rút ra một số vấn đề sau: Bản chất của quyền công tố: Quyền công tố là quyền lực công (của Nhà nƣớc) giao cho một cơ quan nhất định (ở nƣớc ta là VKS) để thực hiện việc buộc tội đối với ngƣời phạm tội. Quyền lực công xuất phát từ nhu cầu phải duy trì một trật tự xã hội liên quan đến lợi ích chung mà bất kỳ xã hội nào cũng phải có, do vậy khái niệm quyền công tố đã đƣợc thừa nhận và sử dụng từ lâu ở các nhà nƣớc chủ nô, phong kiến, tƣ sản. để đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội cũng nhƣ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội ấy. Quyền công tố là một chức năng độc lập, cần phải đƣợc phân biệt với quyền tài phán (quyền xét xử) của Tòa án và các chức năng khác của cơ quan THQCT (VKS).
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chủ thể thực hành quyền công tố: Quyền công tố là quyền của Nhà nƣớc, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nƣớc và thay đổi theo bản chất Nhà nƣớc. Tuy nhiên, Nhà nƣớc sẽ không trực tiếp thực hiện quyền công tố mà giao cho một cơ quan thực hiện nó, ở nƣớc ta là VKS và chỉ có duy nhất VKS thay mặt Nhà nƣớc THQCT. Căn cứ vào các quy định của Hiến pháp 1959, 1981, 1992, 2013 và các Luật tổ chức VKSND 1960, 1981, 1992, 2002 và hiện nay là năm 2014 đều quy định VKS là cơ quan duy nhất THQCT. Đối tượng tác động của quyền công tố: Dựa vào bản chất của quyền công tố là buộc tội đối với ngƣời phạm tội, đối tƣợng tác động là cái mà quyền công tố tác động vào nhằm mục đích buộc tội đối với ngƣời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc coi là tội phạm, có thể kết luận đối tƣợng của quyền công tố chính là tội phạm và ngƣời phạm tội.
Nội dung của quyền công tố: Xuất phát từ bản chất của quyền công tố đã phân tích ở trên, xác định nội dung của quyền công tố là buộc tội (truy cứu trách nhiệm hình sự) đối với ngƣời phạm tội. Trong lịch sử xã hội, Nhà nƣớc là đại diện cho giai cấp nắm quyền lực trong xã hội và Nhà nƣớc trở thành công cụ để giai cấp thống trị quản lý xã hội. Nếu có ngƣời nào chống đối lại giai cấp thống trị thì Nhà nƣớc sẽ thực hiện các biện pháp để đàn áp, trừng trị đối với những kẻ chống đối đó. "Để thực hiện quyền trừng phạt, Nhà nước phải đưa những người chống đối, những người vi phạm trật tự xã hội ra Tòa và buộc tội họ trước Tòa án" [38, tr.
Có thể thấy, việc Nhà nƣớc buộc tội đối với những ngƣời chống đối, những ngƣời vi phạm trật tự xã hội trƣớc Tòa án thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nƣớc và những ngƣời vi phạm pháp luật, đó cũng chính là nội dung của quyền công tố. Phạm vi của quyền công tố: Do hiện nay chƣa có sự thống nhất về khái niệm quyền công tố, do vậy phạm vi của quyền công tố cũng chƣa đƣợc xác định một cách cụ thể cả về phạm vi không gian và thời gian. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phạm vi không gian: Phần lớn các quan điểm hiện nay cho rằng quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS, bên cạnh đó cũng có quan điểm ủng hộ rằng quyền công tố tồn tại trong cả lĩnh vực khác nhƣ tố tụng dân sự, tố tụng hành chính… Rõ ràng việc thực hiện một số quyền năng tố tụng nhƣ khởi tố vụ án, yêu cầu điều tra, yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các lĩnh vực tố tụng dân sự, lao động, hành chính là những quyền năng thuộc nội dung THQCT để bảo vệ lợi ích chung chứ không phải là thẩm quyền khác của VKS [7, tr. Theo quan điểm của chúng tôi, bản chất của quyền công tố là buộc tội đối với ngƣời phạm tội nên quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực duy nhất là TTHS, các lĩnh vực tố tụng dân sự, hành chính, lao động chỉ là điểm phát hiện hành vi phạm tội, sau này khi THQCT, VKS phải căn cứ vào các trình tự của TTHS để thực hiện.
Phạm vi thời gian: Chúng tôi thấy rằng, VKS ngoài thực hiện quyền công tố tại phiên tòa với các hoạt động đọc cáo trạng truy tố bị can ra trƣớc Tòa án để xét xử, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quan điểm truy tố của mình thì ngay từ đầu khi tội phạm đƣợc thực hiện, VKS đã phải thực hiện quyền công tố thông qua các hoạt động yêu cầu khởi tố vụ án hoặc trực tiếp khởi tố vụ án, áp dụng, thay đổi hay hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, bị can, quyết định truy tố… Sau khi phiên tòa kết thúc, VKS có thẩm quyền kháng nghị bản án chƣa có hiệu lực của Tòa án. Trong trƣờng hợp bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì quyền công tố tiếp tục đƣợc thực thi. Tuy nhiên, trƣờng hợp theo quy định của pháp luật dẫn đến việc chấm dứt giải quyết VAHS thì không còn quyền công tố nữa. Từ phân tích nêu trên, chúng tôi xác định rằng phạm vi thời gian của quyền công tố bắt 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu từ khi tội phạm đƣợc thực hiện và kết thúc khi có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật.
Từ sự nhận thức nhƣ trên, tác giả đƣa ra khái niệm quyền công tố ở Việt Nam: Quyền công tố là quyền lực của Nhà nước giao cho VKS theo quy định của pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị nghi thực hiện tội phạm, thực hiện việc buộc tội và bảo vệ quan điểm buộc tội trước Tòa án. * Khái niệm thực hành quyền công tố Quyền công tố và THQCT là những khái niệm cơ bản trong việc thực hiện chức năng THQCT của VKS, xác định rõ khái niệm quyền công tố và THQCT sẽ giải quyết đƣợc những vẫn đề còn gây tranh cãi, nhầm lẫn giữa chính vai trò, chức năng của VKS (giữa chức năng THQCT và chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật), đồng thời xác định đƣợc vai trò, trách nhiệm của VKS đối với các cơ quan tƣ pháp khác. Từ đó vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình cải cách tƣ pháp hiện nay. Chủ thể THQCT: Từ khi thành lập nƣớc ta đến nay, trong tất cả các văn bản pháp lý mà trực tiếp quy định đến chủ thể THQCT nhƣ Hiến pháp, BLTTHS, Luật tổ chức VKSND đều khẳng định rằng VKS là cơ quan tố tụng duy nhất có chức năng THQCT.
Trên thực tế, một số hoạt động của CQĐT hoặc Tòa án nhƣ khởi tố VAHS, khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp ngăn chặn… đƣợc cho rằng là hoạt động THQCT, nhƣng về bản chất đó chỉ là những hoạt động khởi đầu, có ý nghĩa phát động quyền công tố. Mặt khác, các hoạt động nêu trên của CQĐT hay Tòa án không nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội nên không thể là hoạt động THQCT.