mở đầu cho các hoạt động tố tụng khác để làm rõ tội phạm xảy ra, vạch trần người có lỗi trong thực hiện hành vi phạm tội. Những quyền năng pháp lý trên chỉ duy nhất có VKS được thực hiện một cách độc lập, không chịu sự can thiệp, chi phối của bất kì cơ quan Nhà nước nào. Thứ hai, Các biện pháp áp dụng TNHS đối với người phạm tội: phê chuẩn, không phê chuẩn việc áp dụng hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn như bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam của cơ quan điều tra; Viện kiểm sát trực tiếp áp dụng, thay đổi các biện pháp ngăn chặn 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như ra lệnh bắt, ra lệnh tạm giam bị can; phê chuẩn lệnh khám xét của cơ quan điều tra. Thứ ba, Những biện pháp xử lý vụ án: Quyết định việc truy tố bị can ra Tòa; duy trì quyền công tố tại phiên tòa nhằm bảo vệ quyết định truy tố của mình.
Đồng thời kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm khi thấy có sự vi phạm về nội dung. Quyết định chấm dứt việc THQCT bằng việc ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án. Vậy có thể kết luận THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Qua sự phân tích trên ta có thể nhận thấy mối quan hệ giữa quyền công tố và THQCT thể hiện ở những đặc điểm sau: Thứ nhất, các căn cứ làm phát sinh quyền công tố cũng là những căn cứ để THQCT, đó là một tội phạm đã xảy ra và con người cụ thể đã thực hiện tội phạm đó.
Thứ hai, các căn cứ triệt tiêu quyền công tố thì đồng thời cũng làm chấm dứt việc THQCT. Mối quan hệ giữa quyền công tố và THQCT trong TTHS gắn bó mật thiết với chính sách hình sự và đường lối tội phạm của Nhà nước. Thứ ba, quyền công tố có nội dung là sự buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội, còn THQCT là việc sử dụng các biện pháp được luật định để thực hiện quyền buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Thứ tư, khi tội phạm xảy ra tức là phát sinh quyền công tố trước một tội phạm cụ thể.
Tuy nhiên thực tế thì không phải bất kỳ vụ án nào xảy ra các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng có thể phát hiện ra để xử lý một cách kịp thời do đó khả năng THQCT phụ thuộc rất lớn vào việc phát hiện tội phạm của CQĐT. Nói cách khác phạm vi tác động của quyền công tố thường lớn hơn phạm vi tác động của THQCT. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong TTHS khi giải quyết vụ án hình sự Viện kiểm sát luôn luôn thực hiện song hành hai chức năng là THQCT và KSHĐTP. Điều này được quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố; kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, VKS có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan tư pháp hoặc cán bộ tư pháp nào. Ở nước ta, hoạt động KSHĐTP hình sự chỉ do duy nhất một chủ thể tiến hành, đó là cơ quan VKS. Hoạt động này được thực hiện bởi các KSV là người tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự, trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKS được ghi nhận trong Luật tổ chức VKSND và BLTTHS. KSHĐTP hình sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước, do Quốc hội giao cho Viện kiểm sát nhằm bảo đảm pháp chế trong hoạt động tư pháp hình sự.
Tóm lại ở bất kì giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hình sự, THQCT là những biện pháp mà VKS trực tiếp quyết định như: quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; quyết định phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra; quyết định việc truy tố bị can ra Tòa án; còn KSHĐTP là những biện pháp VKS không trực tiếp ra quyết định, mà qua công tác kiểm sát, nếu phát hiện các vi phạm pháp luật của CQĐT thì yêu cầu, kiến nghị CQĐT, các cơ quan được giao một số hoạt động điều tra khắc phục. Giữa hoạt động KSHĐTP và THQCT trong giải quyết vụ án hình sự có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, hỗ trợ cho nhau. Mối quan hệ này song song tồn tại trong phạm vi bắt đầu từ khi tội phạm được phát hiện, khởi 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tố, điều tra, truy tố, xét xử cho đến khi bản án định tội của Tòa án có hiệu lực không bị kháng cáo, kháng nghị. Trong mối quan hệ giữa hoạt động THQCT và KSHĐTP, cần phải lưu ý mục đích của hoạt động THQCT và mục đích của hoạt động kiểm sát tư pháp trong các giai đoạn.
Mục đích của hoạt động THQCT là nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội cũng như các hành vi thực hiện tội phạm của họ. Hoạt động này phải đầy đủ, chính xác, khách quan, theo đúng các trình tự, thủ tục, nội dung do pháp luật quy định. KSHĐTP có mục đích là bảo đảm các hoạt động điều tra (hoạt động chứng minh tội phạm trong giai đoạn điều tra), truy tố, xét xử được đúng đắn, đầy đủ, khách quan, tức là được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục, nội dung do pháp luật quy định. Như vậy, cả hoạt động THQCT và KSHĐTP trong qua trình giải quyết vụ án hình sự có chung mục đích bao quát là nhằm bảo đảm cho mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
Hoạt động THQCT và KSHĐTP trong quá trình giải quyết án hình sự có quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, tác động, ảnh hưởng đến nhau. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật có hiệu quả là điều kiện bảo đảm THQCT đúng đắn, chính xác, khách quan và ngược lại [23]. Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu. Các tội xâm phạm sở hữu Quan hệ sở hữu là một loại quan hệ xã hội giữa người và người trong quá trình chiếm hữu những của cải vật chất trong xã hội.
Nó ra đời cùng với các hoạt động kinh tế và được luật hóa thành “quyền sở hữu” khi xuất hiện nhà nước và pháp luật. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật dân sự năm 2005 thì quyền sở hữu là quyền 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cơ bản của công dân, bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Các quyền này được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi [48, tr.5] Các tội xâm phạm sở hữu được xếp thành hai loại: các tội xâm phạm sở hữu thực hiện bằng hành vi có tính chất chiếm đoạt; các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt.
Các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt gồm 8 tội sau đây: Tội cướp tài sản (điều 133); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (điều 134); Tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135); Tội cướp giật tài sản (điều 136); Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (điều 137); Tội trộm cắp tài sản (điều 138); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139); Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140); Các tội XPSH không có tính chất chiếm đoạt gồm 5 tội: Tội chiếm giữ trái phép tài sản (điều 141); tội sử dụng trái phép tài sản (điều 142); tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143); Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (điều 144); Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (điều 145). Để nâng cao chất lượng THQCT đối với các tội XPSH, trước hết phải nắm vững các đặc điểm pháp lý (cấu thành tội phạm) của các tội này (trong luận văn chủ yếu đề cập đến các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt). Khách thể của tội phạm: Theo khoa học luật hình sự, khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [48, tr. Về đối tượng tác động thuộc khách thể của tội phạm, các tội XPSH có đối tượng tác động là tài sản thuộc sở hữu của người khác (không phải là của người phạm tội) và chúng còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lí của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.
Về nguyên tắc tài sản này là hợp pháp và bao 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền về tài sản (Điều 163 Bộ luật dân sự). Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi phạm tội được hiểu là hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định chịu sự kiểm soát, điều khiển bởi ý thức, ý chí của người phạm tội [48, tr. Hành vi phạm tội có hai hình thức thể hiện là hành động và không hành động. Dựa vào quy định của BLHS và thực tiễn áp dụng, các tội XPSH có thể là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực như tội Cướp tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Cưỡng đoạt tài sản (nhóm 1); hành vi lợi dụng sơ hở của chủ tài sản để thực hiện tội phạm như tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản (nhóm 2); hành vi dùng thủ đoạn gian dối như tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (nhóm 3) hay hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một cách công khai như tội Cướp giật tài sản.