CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CHỨC NĂNG CÔNG TỐ CỦA VKSND TRONG TỐ DỤNG HÌNH SỰ. Tổng quan về chức năng công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự. Để xác định đúng đắn bản chất quyền công tố và đưa ra khái niệm quyền công tố phải xuất phát từ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, coi quyền công tố là quyền lực công, quyền đó thuộc về Nhà nước, được bắt nguồn từ nhu cầu phải duy trì trật tự xã hội bằng pháp luật để bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị và lợi ích chung.
Hiện nay, trong khoa học pháp lý có nhiều ý kiến khác nhau về quyền công tố. Có ý kiến cho rằng: Quyền công tố là sự cáo buộc của Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật. Với tư cách là một quyền năng của Nhà nước, quyền công tố được thực hiện trong tất cả các quá trình giải quyết các vi phạm pháp luật, bao gồm tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng hành chính. Như vậy, theo ý kiến này, sự tồn tại quyền công tố trong các hoạt động tố tụng nêu trên là do nhu cầu khách quan.
Bởi vì, Nhà nước không thể không thể hiện quyền lực của mình trong việc giải quyết các vi phạm pháp luật, và sự hiện diện công tố như một điều kiện bảo đảm tính hiệu quả của việc giải quyết các vi phạm pháp luật của cơ quan tài phán. Bên cạnh đó cũng có ý kiến: Quyền công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Như vậy, theo ý kiến này, quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Theo chuyên đề nghiên cứu, quyền công tố chỉ có thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật mà từ cội nguồn lịch sử của nó đã gắn liền không thể tách rời với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố tụng hình sự.
Vì vậy, em cũng đồng ý với ý kiến cho rằng: quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Vậy quyền công tố trong tố tụng hình sự được hiểu như thế nào? 5 MSV: 12145116 – Phạm Xuân Hòa Chuyên đề thực tập ngành Luật Ở nước ta hiện đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố trong tố tụng hình sự. Quan điểm thứ nhất: Đồng nhất quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự. Theo quan điểm này, công tố không phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm sát mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Hiểu khái niệm quyền công tố trên là chưa chính xác, và dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là một hoạt động độc lập của Viện kiểm sát nhân danh quyền lực công. Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát tiến hành trong giai đoạn xét xử sơ thẩm (tức là việc truy tố bị can ra trước Tòa án và buộc tội tại phiên tòa). Chúng tôi cho rằng, quan điểm này đã quá thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố và không phản ánh được bản chất của quyền này. Trên thực tế, hoạt động truy tố và buộc tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa chỉ là một số trong các quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố.
Theo em , để xác định đúng đắn khái niệm quyền công tố cần làm rõ một số vấn đề sau: a. Chủ thể quyền công tố. Muốn hiểu đầy đủ về chủ thể quyền công tố, em đề cập đến một vấn đề ít nhiều có liên quan, đó là quyền tư tố. Tư tố là một chế định pháp lý thuộc loại cổ xưa nhất mà pháp luật cổ đại cho phép người bị hại hoặc người thân thích của họ sử dụng để khởi kiện, khởi tố chống lại người đã thực hiện những hành vi xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân.
Quyền này do người bị hại trực tiếp thực hiện, nhân danh cá nhân bảo vệ các lợi ích của bản thân mình trước Tòa án (hoặc có thể nhờ người khác thay mặt mình thực hiện quyền này). Dù pháp luật dành cho người bị hại quyền tư tố nhưng họ (hoặc người thân thích của họ) rất ít khi sử dụng. Để tiến hành một vụ án hình sư, người ta mất rất nhiều thời gian, tiền của và công sức. Vì thế, không phải ai cũng có điều kiện và khả năng để làm.
Mặt khác, việc pháp luật cho phép cá nhân bị hại có quyền hòa giải, thỏa thuận với người phạm tội đã dẫn đến nhiều vụ án nghiêm trọng (xét ở góc độ 6 MSV: 12145116 – Phạm Xuân Hòa Chuyên đề thực tập ngành Luật trật tự xã hội) không bị xét xử và trừng trị. Điều này làm cho pháp luật không được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh, công bằng xã hội không được bảo đảm. Vì vậy, Nhà nước thấy cần thiết phải can thiệp vào quá trình giải quyết các vụ án mà người bị hại không muốn thực hiện quyền tư tố. Như vậy, từ chỗ vận hành chủ yếu dựa vào quyền tư tố, tố tụng hình sự chuyển sang vận hành dựa vào quyền công tố.
Chính điều đó đã làm cho vai trò của chủ thể quyền công tố trở nên hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự. Như vậy, Nhà nước là người nhân danh xã hội thay mặt xã hội đứng ra trừng phạt kẻ phạm tội. Điều đó cũng có nghĩa Nhà nước chính là chủ thể của quyền công tố. Phạm vi của quyền công tố.
Ở nước ta hiện đang tồn tại những quan điểm khác nhau về phạm vi quyền công tố mà Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước thực hiện. Quan điểm thứ nhất: Phạm vi quyền công tố chỉ bao gồm hai giai đoạn của hoạt động tư pháp hình sự là truy tố bị can ra trước Tòa án, buộc tội bị can tại phiên tòa, và chấm dứt khi bản án có hiệu lực pháp luật. Nói cách khác, quyền công tố chỉ tồn tại ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Với quan điểm trên, khó mà cắt nghĩa được các hoạt động tố tụng khác, ví dụ: quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can thuộc quyền gì? hoặc, việc kháng nghị các quyết định hay bản án có sai lầm hoặc vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng là thuộc nội dung của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật hay thuộc nội dung quyền công tố? Theo em , truy tố người phạm tội ra Tòa án và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa chỉ là một trong số quyền năng cụ thể thuộc nội dung quyền công tố, không thể coi là phạm vi quyền công tố.
Quan điểm thứ hai: Quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi người phạm tội chấp hành xong bản án. Như vậy có nghĩa là quyền công tố được thực hiện bởi các cơ quan tiến hành tố tụng trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Quan điểm này đã quá mở rộng phạm vi bắt đầu và kết thúc của quyền công tố. Tán thành với quan điểm được đa số thừa nhận, đó là: Phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, 7 MSV: 12145116 – Phạm Xuân Hòa Chuyên đề thực tập ngành Luật không bị kháng nghị.
Theo em, khi hành vi phạm tội được thực hiện, bổn phận của cơ quan công tố là phải (và có quyền) tiến hành ngay các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện tội phạm và người phạm tội, xác định các căn cứ để kết tội họ. Còn trên thực tế, cơ quan công tố có phát hiện, điều tra kịp thời tội phạm và người phạm tội hay không thì đó lại là vấn đề khác. Đối tượng của quyền công tố. Đối tượng của quyền công tố được hiểu là cái mà quyền công tố tác động vào nhằm đạt được mục đích buộc tội và trừng phạt kẻ phạm tội.
Do xuất phát từ các quan niệm khác nhau về quyền công tố nên nhận thức về đối tượng của quyền này cũng khác nhau. Có quan điểm coi sự tuân thủ pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng là đối tượng của quyền công tố. Với quan niệm quyền công tố là quyền của Nhà nước thực hiện sự buộc tội (thực hiện việc truy cứu tố tụng hình sự) đối với người phạm tội, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng: Đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. Nội dung của quyền công tố.
Nội dung quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội. Trong hoạt động tố tụng hình sự luôn luôn tồn tại ba chức năng tố tụng cơ bản: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa (gỡ tội), chức năng xét xử. Buộc tội, với tư cách là một chức năng tố tụng luôn nhằm chống lại một cá nhân cụ thể và thực chất đó chính là hoạt động truy cứu tố tụng hình sự đối với người phạm tội. Người buộc tội (cơ quan thực hiện chức năng buộc tội) có trách nhiệm và có quyền đưa ra lời cáo buộc đối với những cá nhân cụ thể và có nhiệm vụ phải đưa ra những bằng chứng cụ thể cho sự cáo buộc đó.
Và trong chức năng buộc tội, hình thức buộc tội nhân danh Nhà nước (nhân danh quyền lực công) giữ vai trò là động lực của hoạt động tố tụng. Từ những vấn đề về chủ thể, phạm vi, đối tượng và nội dung của quyền công tố, theo chúng tôi: Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.