Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp lý về vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự. Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự. 5 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm về Viện Kiểm sát nhân dân và Tố tụng dân sự Công tố Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì “công” là những gì thuộc Nhà nước, thuộc tập thể, còn “tố” là nói lên những sai phạm, tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc nhiều người.
Hiểu một cách thông thường thì công tố có nghĩa là sự cáo buộc của Nhà nước đối với những kẻ phạm tội công khai ra trước pháp luật. Tuy nhiên, về mặt thực tế hành vi thì “tố” được thực hiện bằng cách viết tay, báo cáo bằng văn bản chứ không nhất thiết phải nói công khai trước mọi người. Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc phát hiện và tố giác các hành vi vi phạm pháp luật là quyền, nghĩa vụ của mỗi công dân, của tổ chức xã hội và cơ quan Nhà nước. Như vậy ta có thể thấy mọi công dân, tổ chức, xã hội, cơ quan nhà nước vừa là chủ thể vừa là đối tượng của hành vi tố.
Mặt khác quyền công tố là quyền của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan công tố, xét xử, điều tra) dùng để điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước tòa án hay là quyền truy tố, buộc tội cá nhân, tổ chức trước pháp luật. Như vậy, “công tố” là việc Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước thực hiện quyền truy tố, buộc tội bị cáo trước Tòa án và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ việc điều tra, xét xử được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. Viện kiểm sát chỉ thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra đến giai đoạn xét xử vụ án hình sự. Trong đó, thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
Cơ quan kiểm sát (cơ quan công tố): Trên thế giới, mỗi quốc gia đều có một hệ thống pháp luật khác nhau, mỗi hệ thống pháp luật của mỗi nước đều có một đặc trưng riêng biệt do đó tổ chức cơ quan thực hành quyền công tố cũng khác nhau. Ở những quốc gia, tổ chức Bộ máy nhà nước được thành lập theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” thì quyền lập pháp được thuộc về Nghị viện, quyền hành pháp thuộc về Chính phủ, quyền tư pháp thuộc về Tòa án. Mỗi cơ quan độc lập với nhau trong phạm vi quyền hạn của mình nhưng có mối quan hệ tác động lẫn nhau để phát huy vai trò ràng buộc giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp từ đó tạo sự cân bằng, ngăn chặn hạn chế sự chuyên quyền độc đoán của bất cứ cơ quan, cá nhân. Do đó, trong các quốc gia này hệ thống tổ chức Bộ máy nhà nước không có hệ thống cơ quan chuyên trách giám 6 sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan trên, hay nói cách khác là trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước không có hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân.
Ví dụ thể như: Nước Anh, cơ quan công tố của nước Anh là cơ quan truy tố quốc gia, hệ thống cơ quan này được phân theo khu vực địa lý, có quyền tiến hành tố tụng dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng. Công tố viên là người đại diện cho Viện công tố thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình theo sự chỉ dẫn của Viện trưởng. Cơ cấu ngành công tố quốc gia Anh là sự kết hợp giữa cơ cấu và tiêu chuẩn quốc gia với yêu cầu của địa phương. Công tố viên trước tiên phải là luật sư, để trở thành một Công tố viên thì phải trải qua quá trình thi cử do Chính phủ tổ chức sau đó sẽ được Viện trưởng bổ nhiệm.
Ở Việt nam, cơ quan thi hành công tố không đặt trong hệ thống hành pháp mà nằm hoàn toàn độc lập. Cơ quan thi hành quyền công tố là cơ quan Viện kiểm sát nhân dân do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất thành lập và chịu trách nhiệm báo cáo trước cơ quan này. Do đó, quyền công tố không thuộc lĩnh vực hành pháp như một số quốc gia mà nằm hoàn toàn độc lập. Đây là một đặc điểm riêng biệt trong Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt nam.
Cơ quan đại diện cho nhà nước thực hành quyền công tố là Viện kiểm sát nhân dân, đứng đầu là Viện kiểm sát nhân dân tối cao, do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao lãnh đạo và có trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Như vậy, qua các quan điểm thì cho dù là ở trường phái nào thì cơ quan công tố cũng có vị trí vai trò quan trọng trong tố tụng tư pháp, đó là cơ quan đại diện nhà nước thực hành quyền, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân Theo quy định của pháp luật Việt nam hiện hành, cụ thể trong Hiến pháp và Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân quy định “ Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Viện Kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến Pháp và pháp luật, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, quyền công dân bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.1 Như vậy, từ những quy định trên của pháp luật cho thấy pháp luật chỉ nêu ra chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát nhân dân chứ chưa đưa ra khái niệm về Viện kiểm sát nhân dân.
Nhưng xuất phát từ chức năng của nhà nước, ta thấy chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp là chức năng của Nhà nước và Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan nhà nước, được nhà nước giao quyền thực hiện chức năng này, vì vậy có 1 Khoản 1, 3 Điều 107 Luật Hiến Pháp năm 2013 7 thể hiểu khái niệm Viện Kiểm sát nhân dân đó là: “Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan nhà nước, được nhà nước trao quyền thực hiện chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật”. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội, có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Là một cơ quan tư pháp quan trọng, trong phạm vi quyền hạn của mình, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản Nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, tự do của công dân bằng cách áp dụng các biện pháp cần thiết do pháp luật quy định. Tố tụng dân sự Tố tụng dân sự là trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án hoặc các việc dân sự tại Tòa án liên quan đến các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân được thể hiện cụ thể thông qua chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo pháp luật hiện hành. Trong khi đó, Nguyên tắc đặc thù trong TTDS đó là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, đây là điểm khác biệt giữa Tố tụng dân sự và Tố tụng hình sự. Do đó, trong TTDS quyền lực nhà nước thể hiện qua chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND dường như không được chú trọng như trong Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, với tình hình kinh tế xã hội hiện nay thì trong TTDS sự tham gia của VKSND vẫn đóng một vai trò rất quan trọng kể cả mặt lý luận đến thực tiễn.
Vị trí, cơ cấu tổ chức của Viện Kiểm sát nhân dân 1. Vị trí pháp lý của cơ quan kiểm sát 1. Vị trí pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ máy Nhà nƣớc Vị trí của Viện Kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta được quy định bởi các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác lập trong Hiến pháp. Bộ máy nhà nước Việt nam được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, quyền lực nhà nước cao nhất tập trung ở Quốc hội.
“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp 8 và tư pháp.”2 Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo một hệ thống thống nhất, lãnh đạo trong ngành không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan nào, tồn tại như một hệ thống độc lập có vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước, do Quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Chính vị trí độc lập này là nhân tố đảm bảo cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả. Trong bộ máy nhà nước, với chức năng và nhiệm vụ của mình được xác lập trong Hiến pháp, Viện Kiểm sát nhân dân cùng với các cơ quan tư pháp khác là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vị trí pháp lý của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Theo quy định trong BLTTDS năm 2015 thì trong tố tụng Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng.