Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống chính trị và bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) giữ vị trí độc lập, thực hiện hai chức năng cơ bản là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Thiết chế này đóng vai trò quan trọng trong cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, vừa hỗ trợ Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao, vừa phản biện thông qua việc phản hồi về những điểm thiếu khả thi, chồng chéo của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Khi Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, các quy định tố tụng dân sự đã được đổi mới nhằm thể chế hóa chiến lược cải cách tư pháp theo hướng công khai, minh bạch, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển khiến các tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất phức tạp. Trình độ hiểu biết pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế dẫn đến khó khăn trong việc tự thu thập chứng cứ và chứng minh để tự bảo vệ quyền lợi trước Tòa án, thậm chí phát sinh nguy cơ bị cơ quan thực thi hoặc đương sự lợi dụng để hình sự hóa các quan hệ dân sự. Do đó, việc nghiên cứu vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự là vấn đề cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng.

Khóa luận xác định 5 mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nắm bắt những vấn đề cơ bản của VKSND về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định pháp luật hiện hành.
  2. Nắm bắt việc vận dụng các quy định pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự.
  3. Chỉ ra những khó khăn, vướng mắc của VKSND khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong tố tụng dân sự trên thực tế.
  4. Đưa ra các giải pháp khắc phục những khó khăn, vướng mắc nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát dân sự của VKSND.
  5. Định hướng phát triển đề tài nghiên cứu trong các giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vị trí, cơ cấu tổ chức của VKSND; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND và Kiểm sát viên (KSV) trong tố tụng dân sự.
  • Phạm vi nội dung và pháp lý: Các quy định tại Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, BLTTDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn liên quan.
  • Phạm vi không gian và thời gian thực tiễn: Hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ việc dân sự tại VKSND huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn từ ngày 01/7/2016 đến ngày 30/6/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết và pháp lý dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của Nhà nước Việt Nam:

  • Hiến pháp năm 2013 (đặc biệt là Điều 2, Điều 107).
  • Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (Điều 2, Điều 3, Điều 4).
  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (các điều khoản về cơ quan, người tiến hành tố tụng, phạm vi kiểm sát, quyền thu thập chứng cứ, thủ tục phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm như Điều 21, 46, 57, 58, 59, 68, 93, 97, 192, 196, 212, 220, 232, 262, 266, 268, 280, 296, 306, 313, 319, 341, 358, 367, 374, 375).
  • Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của VKSND Tối cao và Tòa án nhân dân Tối cao quy định việc phối hợp giữa hai cơ quan trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS.
  • Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS năm 2004 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tác giả kế thừa và đối chiếu các công trình nghiên cứu trước đó, chia thành hai nhóm tài liệu:

  • Nhóm luận văn, sách chuyên khảo lý luận: Luận văn thạc sĩ của Phùng Thanh Hà (2014), Võ Thị Phượng (2010), sách chuyên khảo của Nguyễn Thị Hằng (NXB Tư pháp, 2008), các bài viết trên Tạp chí Kiểm sát của TS. Hoàng Thị Quỳnh Chi, ThS. Nguyễn Quốc Huy.
  • Nhóm báo cáo chuyên đề nghiệp vụ rút kinh nghiệm: Bài viết của Bùi Văn Kim và Đoàn Thị Thu (Tạp chí Kiểm sát số 20/2016), Nguyễn Văn Hải và Đoàn Thị Thu (Tạp chí Kiểm sát số 5/2018).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Làm rõ các quy định pháp luật về vị trí, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND nói chung và trong tố tụng dân sự nói riêng; tổng hợp đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện.
  • Phương pháp so sánh: So sánh mô hình cơ quan công tố của các quốc gia theo nguyên tắc "tam quyền phân lập" (điển hình là cơ quan truy tố quốc gia của nước Anh) với hệ thống VKSND độc lập tại Việt Nam; so sánh các quy định giữa BLTTDS năm 2015 với các văn bản trước đó.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập và tổng hợp số liệu thụ lý, kiểm sát xét xử sơ thẩm, số lượng kháng nghị và tỷ lệ chấp nhận kháng nghị tại VKSND huyện Tánh Linh từ 01/7/2016 đến 30/6/2017.
  • Phương pháp chuyên gia và tổng kết thực tiễn: Tiếp thu ý kiến chuyên môn từ cán bộ thực tiễn và phân tích các bản án, hồ sơ vụ việc cụ thể tại TAND huyện Tánh Linh.

Nguồn dữ liệu sử dụng là số liệu thống kê nghiệp vụ của VKSND huyện Tánh Linh, các hồ sơ vụ án dân sự, bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm (tiêu biểu như Bản án số 01/2018/KDTM-ST ngày 24/01/2018) và các báo cáo nghiệp vụ chuyên ngành kiểm sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp lý về vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và quy định pháp luật thực định về VKSND:

  • Khái niệm và đặc trưng: Phân tích thuật ngữ "công tố", "cơ quan kiểm sát" và "tố tụng dân sự". Trong khi nhiều nước đặt cơ quan công tố trong nhánh hành pháp, ở Việt Nam VKSND là hệ thống cơ quan độc lập do Quốc hội thành lập, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước Quốc hội. Trong tố tụng dân sự, nguyên tắc cơ bản là quyền tự định đoạt của đương sự, do đó VKSND tham gia với tư cách cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng duy nhất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
  • Vị trí và cơ cấu tổ chức: Hệ thống VKSND được tổ chức thống nhất theo ngành dọc gồm 4 cấp: VKSND Tối cao, VKSND Cấp cao, VKSND Cấp tỉnh, VKSND Cấp huyện, cùng hệ thống Viện kiểm sát quân sự các cấp (Trung ương, Quân khu và tương đương, Khu vực). Đứng đầu hệ thống là Viện trưởng VKSND Tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước.
  • Đặc điểm tham gia tố tụng: VKSND không tham gia bắt buộc ở tất cả các phiên tòa sơ thẩm mà chỉ tham gia trong các trường hợp luật định tại Điều 21 BLTTDS năm 2015 (phiên họp sơ thẩm việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ, tranh chấp tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở, đương sự là người chưa thành niên, mất/hạn chế năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận thức). Ngược lại, tại mọi phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, sự tham gia của VKSND là bắt buộc.
  • Nhiệm vụ và quyền hạn của các chủ thể tố tụng: Phân định rõ quyền hạn của Viện trưởng (Điều 57), Kiểm tra viên (Điều 59) và Kiểm sát viên (Điều 58). Các quyền năng cụ thể gồm: kiểm sát trả lại đơn khởi kiện, kiểm sát việc thụ lý vụ việc, nghiên cứu hồ sơ vụ án (xác định thẩm quyền, tư cách đương sự, quan hệ tranh chấp, tính hợp pháp và khách quan của chứng cứ theo Điều 93), yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ hoặc tự mình thu thập tài liệu chứng cứ phục vụ kháng nghị theo khoản 6 Điều 97, phát biểu ý kiến tại phiên tòa (Điều 262, 306), kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm để thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị.

Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

Chương 2 tập trung phân tích những vướng mắc trong quy định pháp luật, khảo sát thực tiễn tại VKSND huyện Tánh Linh và đưa ra hệ thống giải pháp:

  • Những bất cập, hạn chế trong quy định của BLTTDS năm 2015:
    • Sự bị động về thời gian nghiên cứu: Theo khoản 2 Điều 220, Tòa án chỉ gửi hồ sơ cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử cho VKS trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ra quyết định, VKS có 15 ngày để nghiên cứu. Lúc này ngày xét xử đã được ấn định, nếu phát hiện vi phạm VKS cũng rơi vào thế bị động.
    • Mâu thuẫn trong văn bản: Điểm e khoản 1 Điều 220 quy định quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ghi tên KSV tham gia phiên tòa, trong khi thực tế VKS nhận được hồ sơ kèm quyết định mới tiến hành phân công KSV.
    • Thời hạn kháng nghị ngắn: Điều 280 quy định thời hạn kháng nghị tính theo ngày thông thường (7 ngày đối với quyết định, 15 ngày đối với bản án cùng cấp) gây khó khăn cho VKS trong việc tự thu thập, xác minh chứng cứ (đặc biệt là tranh chấp đất đai) và gửi hồ sơ qua bưu điện giữa các cấp.
    • Quy định thiếu khả thi về bài phát biểu của KSV: Điều 262 và Điều 306 yêu cầu KSV phải gửi văn bản phát biểu cho Tòa án ngay sau khi kết thúc phiên tòa để lưu hồ sơ. Quy định này gây áp lực lớn vì KSV cần thời gian chỉnh sửa theo diễn biến tranh tụng thực tế, in ấn và đóng dấu.
    • Khó khăn trong kiểm sát trả lại đơn và hòa giải: Tòa án chỉ gửi thông báo trả lại đơn mà không gửi kèm đơn khởi kiện và chứng cứ (Điều 192); gửi quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự nhưng không gửi kèm biên bản hòa giải thành (Điều 212), khiến VKS không có cơ sở đối chiếu vi phạm.
    • Thiếu chế tài đối với quyền kiến nghị: BLTTDS không quy định trách nhiệm pháp lý bắt buộc của Tòa án khi nhận được kiến nghị của VKS, dẫn đến nhiều kiến nghị bị bỏ qua.
  • Thực tiễn công tác kiểm sát tại VKSND huyện Tánh Linh (Bình Thuận):
    • Trong giai đoạn 01/7/2016 - 30/6/2017, đơn vị đã kiểm sát 268 vụ việc TAND huyện thụ lý, tham gia xét xử 27 vụ, ban hành 7 kháng nghị phúc thẩm và được TAND cấp phúc thẩm chấp nhận 100%.
    • Phân tích sai sót của Tòa án qua các vụ án thực tế: Trường hợp tranh chấp giữa Ngân hàng Chính sách Xã hội và ông An (vay 5.000.000 đồng phát triển sản xuất), TAND huyện áp dụng sai Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP để xác định là án kinh doanh thương mại và buộc đương sự chịu án phí 3.000.000 đồng, thay vì xác định là tranh chấp dân sự với mức án phí chỉ 300.000 đồng theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
    • Phân tích 10 thông báo trả lại đơn khởi kiện, trong đó có 4 trường hợp bị khiếu nại (đều được Tòa án giữ nguyên vì trả lại đúng luật).
    • Chỉ ra các tồn tại nội bộ: Lượng án lớn trong khi biên chế ít; KSV lớn tuổi thiếu lực lượng trẻ kế thừa; quan hệ phối hợp cấp huyện còn nể nang, chủ yếu dừng ở trao đổi góp ý thay vì ban hành kiến nghị/kháng nghị; kỹ năng sao chụp hồ sơ của Kiểm tra viên chưa cẩn thận (bỏ sót mặt sau tài liệu).
  • Hệ thống giải pháp đề xuất: Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng nghiên cứu hồ sơ; hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng dân sự (quy định thời hạn kháng nghị theo ngày làm việc, buộc Tòa án gửi kèm biên bản hòa giải thành và tài liệu trả đơn, điều chỉnh thời điểm nộp bài phát biểu của KSV, bổ sung trách nhiệm của Tòa án đối với kiến nghị của VKS).

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu thực tế kèm số liệu

Khóa luận đã tổng hợp kết quả công tác kiểm sát xét xử sơ thẩm án dân sự tại VKSND huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận trong 1 năm thực hiện BLTTDS năm 2015 (từ 01/7/2016 đến 30/6/2017):

Chỉ tiêu công tác Số lượng Tỷ lệ so với tổng số vụ Tòa án giải quyết
Tổng số vụ án TAND huyện Tánh Linh giải quyết 268 vụ 100%
Số vụ án VKSND huyện Tánh Linh tham gia phiên tòa 27 vụ 16,07%
Số vụ án VKSND huyện Tánh Linh kháng nghị phúc thẩm 7 vụ 4,10%
Số vụ án kháng nghị được TAND cấp phúc thẩm chấp nhận 7 vụ 100% (so với số vụ kháng nghị)

Bên cạnh số liệu xét xử, đơn vị đã tiếp nhận và kiểm sát 10 thông báo trả lại đơn khởi kiện từ TAND huyện Tánh Linh, trong đó có 4 trường hợp đương sự gửi đơn khiếu nại việc trả lại đơn nhưng đều được Tòa án giải quyết đúng quy định.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

Khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ:

  • Về mặt quy định pháp luật tố tụng:
    • Sửa đổi cách tính thời hạn kháng nghị phúc thẩm tại Điều 280 BLTTDS năm 2015 từ ngày theo lịch sang "ngày làm việc" nhằm bảo đảm thời gian thu thập chứng cứ và vận chuyển hồ sơ.
    • Bổ sung quy định tại Điều 192: Khi gửi thông báo trả lại đơn khởi kiện cho VKS, Tòa án phải gửi kèm bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo.
    • Bổ sung quy định tại Điều 212: Buộc Tòa án phải gửi kèm bản sao biên bản hòa giải thành khi tống đạt quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cho VKS.
    • Sửa đổi Điều 262 và Điều 306: Cho phép KSV có khoảng thời gian hợp lý sau phiên tòa để hoàn thiện, in ấn, đóng dấu văn bản phát biểu ý kiến trước khi gửi lưu vào hồ sơ vụ án.
    • Thiết lập cơ chế ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với Tòa án khi nhận được kiến nghị của VKS theo Điều 21, Điều 319 và Điều 358.
  • Về tổ chức cán bộ và nghiệp vụ thực tiễn:
    • Tăng cường giáo dục chính trị, ý thức kỷ luật, rèn luyện phẩm chất đạo đức cho đội ngũ KSV, Kiểm tra viên.
    • Nâng cao kỹ năng sao chép, trích cứu toàn diện hồ sơ (chú ý kiểm tra cả mặt trước và mặt sau tài liệu chứng cứ).
    • Xóa bỏ tâm lý nể nang giữa các cơ quan tư pháp cấp huyện, kiên quyết ban hành văn bản kiến nghị, kháng nghị khi phát hiện vi phạm thay vì chỉ trao đổi bằng miệng.

Đóng góp của đề tài

Tác giả tự xác định khóa luận đóng góp vào việc cập nhật và phân tích vai trò của VKSND trên cơ sở các văn bản luật mới ban hành như Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và đặc biệt là BLTTDS năm 2015. Khóa luận khắc phục khoảng trống của các công trình nghiên cứu trước đây vốn chưa kịp cập nhật các quy định mới của BLTTDS năm 2015, đồng thời cung cấp bức tranh thực tiễn sinh động thông qua số liệu và các vụ án cụ thể tại địa bàn cấp huyện (huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thừa nhận một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu:

  • Hạn chế: Tác giả tự đánh giá thời gian nghiên cứu cũng như nhận thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân còn hạn chế; phạm vi khảo sát số liệu thực tiễn chỉ tập trung tại một đơn vị địa phương là VKSND huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận trong phạm vi thời gian 1 năm (01/7/2016 - 30/6/2017). Do giới hạn khuôn khổ, đề tài chỉ tập trung chủ yếu vào công tác kiểm sát xét xử sơ thẩm.
  • Hướng mở tiếp theo: Tác giả xác định mục tiêu định hướng phát triển đề tài về sau, mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các giai đoạn tố tụng khác như kiểm sát phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và khảo sát trên quy mô nhiều địa phương để có sự so sánh toàn diện hơn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Tố tụng Dân sự và Tư pháp học, phục vụ việc học tập, nghiên cứu môn học Luật Tố tụng Dân sự và xây dựng chuyên đề tốt nghiệp.
  • Cán bộ thực tiễn ngành Tư pháp: Cán bộ, Kiểm tra viên, Kiểm sát viên mới vào ngành tại các VKSND cấp huyện có thể tham khảo phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án, kỹ năng phân loại tranh chấp dân sự với tranh chấp kinh doanh thương mại, và quy trình kiểm sát bản án, quyết định.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Tiểu mục phân tích các bất cập quy chuẩn của BLTTDS năm 2015 (Chương 2) và phần phân tích các án điểm thực tế tại huyện Tánh Linh (vụ tranh chấp xi măng Hải Lành - Ngọc Thái và vụ án vay vốn Ngân hàng Chính sách Xã hội).

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của BLTTDS năm 2015, VKSND bắt buộc phải tham gia những phiên tòa, phiên họp sơ thẩm nào?
Theo khoản 2 Điều 21 BLTTDS năm 2015, VKSND tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với việc dân sự; tham gia các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này.

2. Kết quả kháng nghị phúc thẩm của VKSND huyện Tánh Linh giai đoạn 01/7/2016 - 30/6/2017 đạt tỷ lệ như thế nào?
Trong giai đoạn này, VKSND huyện Tánh Linh đã ban hành 7 kháng nghị phúc thẩm trong tổng số 268 vụ việc Tòa án giải quyết. Toàn bộ 7/7 vụ kháng nghị đều được TAND cấp phúc thẩm chấp nhận, đạt tỷ lệ 100%.

3. Tại sao tác giả cho rằng quy định nộp bài phát biểu của KSV ngay sau khi kết thúc phiên tòa (Điều 262, Điều 306) là chưa phù hợp thực tế?
Vì bài phát biểu của KSV tại phiên tòa không chỉ dựa trên hồ sơ có sẵn mà phải được điều chỉnh, bổ sung theo diễn biến tranh tụng thực tế tại phiên tòa. Sau phiên tòa, KSV cần thời gian hoàn thiện câu chữ, in ấn và đóng dấu của cơ quan VKS trước khi bàn giao lưu hồ sơ; nếu phiên tòa kết thúc muộn hoặc KSV phải xét xử nhiều vụ liên tục trong ngày thì không thể nộp ngay lập tức.

4. Trong vụ án tranh chấp giữa Ngân hàng Chính sách Xã hội và ông An tại TAND huyện Tánh Linh, Tòa án đã có sai sót gì trong việc áp dụng pháp luật?
TAND huyện Tánh Linh đã áp dụng sai Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP khi xác định tranh chấp vay vốn sản xuất 5.000.000 đồng của ông An là tranh chấp kinh doanh thương mại và buộc đương sự chịu mức án phí 3.000.000 đồng. Thực tế, ông An không đăng ký kinh doanh và không hoạt động vì mục đích lợi nhuận theo khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm 2015, do đó quan hệ này là tranh chấp dân sự và mức án phí chỉ là 300.000 đồng theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

5. Điểm mâu thuẫn giữa quy định tại điểm e khoản 1 và khoản 2 Điều 220 BLTTDS năm 2015 được khóa luận chỉ ra là gì?
Điểm e khoản 1 Điều 220 quy định nội dung quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ghi rõ họ tên KSV tham gia phiên tòa, nhưng khoản 2 Điều 220 lại quy định trong thời hạn 3 ngày kể từ khi ra quyết định này Tòa án mới gửi hồ sơ kèm quyết định cho VKS. Thực tế, sau khi nhận được hồ sơ từ Tòa án thì Viện trưởng VKS mới ra quyết định phân công KSV cụ thể, tạo ra sự mâu thuẫn trong trình tự làm việc giữa hai cơ quan.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đinh Thị Thu Hương đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận và pháp lý về vị trí, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng dân sự theo Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTDS năm 2015. Thông qua số liệu thống kê và các vụ việc cụ thể tại VKSND huyện Tánh Linh (Bình Thuận) giai đoạn 2016 - 2017, công trình đã làm rõ hiệu quả kiểm sát xét xử sơ thẩm cũng như chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật và vướng mắc thực tiễn. Hệ thống giải pháp được đề xuất hướng tới việc hoàn thiện các điều khoản tố tụng dân sự và nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ kiểm sát trong giai đoạn cải cách tư pháp.