Chương 1. Lý luận thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy của VKSND cấp huyện; Chương 2. Thực trạng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy của VKSND quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội; Chương 3. Quan điểm và giải pháp bảo đảm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy của VKSND quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
6 Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN MA TÚY CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm quyền công tố “Công tố” theo Đại từ điển tiếng Việt, “công” có nghĩa là thuộc về Nhà nước, tập thể, trái với tư; còn “tố” có nghĩa là nói về những sai phạm, tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người.
“Công tố” có nghĩa là điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước toà án [64]. Theo từ điển luật học thì “Quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội” [63]. Để đưa ra được quan niệm đúng về quyền công tố, cần phải xem xét nó trong mối liện hệ với tính đặc thù của lĩnh vực pháp luật cụ thể. “Quyền công tố chỉ được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật mà từ cội nguồn lịch sử của nó đã gắn liền, không thể tách rời với việc nhân danh nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố tụng hình sự” [63].
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan VKSND) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cư để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra 7 trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà.
Quyền công tố chỉ có trong tố tụng hình sự. Trong khoa học pháp lý nước ta, quyền công tố được diễn giải với các mức độ khác nhau như: là quyền của VKSND thay mặt nhà nước bảo vệ lợi ích công (nhà nước, xã hội và công dân) khi có các vi phạm pháp luật, là quyền của nhà nước giao cho VKSND truy tố người phạm tội ra trước tòa án và thực hành việc buộc tội đó tại phiên tòa là quyền của nhà nước giao cho các cơ quan nhất định khởi tố, điều tra và truy tố người phạm tội ra trước tòa án để xét xử và thực hiện việc buộc tội trước phiên tòa. Căn cứ vào vị trí trong bộ máy nhà nước có thể thấy được sự đa dạng về việc tổ chức thực hiện quyền công tố của các nước trên thế giới. Có những nước mà ở đó Cơ quan công tố/Viện kiểm sát nằm trong cơ cấu của Bộ Tư pháp (Hoa Kỳ, Pháp, Bỉ, Nhật Bản, Ba Lan, Ru-ma-ni, Hà Lan, Đan Mạch…); có những nước mà ở đó Cơ quan công tố/ Viện kiểm sát nằm trong thành phần của hệ thống tư pháp được đặt tại các Tòa án, nhưng độc lập với Tòa án về chức năng (Tây Ban Nha, Columbia, Bun-ga-ri…); hoặc có những nước mà ở đó Cơ quan công tố/ Viện kiểm sát là một hệ thống riêng biệt, hoặc trực thuộc Quốc hội, hoặc trực thuộc Nguyên thủ quốc gia (Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Cu Ba, Việt Nam, Lào…).
Tuy về cơ cấu tổ chức, dù cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ công tố nằm trong hệ thống hành pháp, tư pháp hoặc lập pháp… nhưng về chức năng thì hoàn toàn độc lập [22]. Ở Việt Nam, quyền công tố là khái niệm được nhắc đến nhiều trong luật tố tụng hình sự nước ta khi đề cập chức năng của VKSND các cấp và lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến chức năng của VKSND (Điều 138), tiếp đến tại Hiến pháp 1992 (Điều 137), Hiến pháp 2013 (Điều 107, Điều 109). Ngoài ra, được ghi nhận ở BLTTHS (2003, 2015), Pháp lệnh KSV VKSND, Pháp lệnh tổ chức VKSND quân sự 2002, Luật tổ chức VKSND 2014. Từ phân tích nêu trên có thể rút ra khái niệm ở Việt nam như sau: Quyền công tố là quyền thuộc về nhà nước, do VKSND thực hiện thể hiện ở việc phát hiện và 8 truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội bằng các hoạt động cụ thể như thu thập chứng cứ buộc tội, truy tố bị can và bảo vệ sự buộc tội trước phiên toà.
Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự Ở Việt Nam, xuất phát từ những quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố đã được pháp luật quy định, việc sử dụng những quyền năng này để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với kẻ phạm tội chính là thực hành quyền công tố. Do vậy, thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử [28]. Căn cứ vào các quy định của Hiến pháp và pháp luật và thực tiễn thì từ trước đến nay quyền này giao cho duy nhất VKSND. Chủ thể thực hành quyền công tố ở Việt Nam là VKSND.
Theo quy định tại Điều 3 của Luật Tổ chức VKSND 2014 thì: Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Ở nhiều nước quyền công tố được giao cho Viện công tố thực hiện. Ở nước ta và một số nước đi theo đường lối xã hội chủ nghĩa quyền công tố được giao cho VKSND vừa làm chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật vừa thực hành quyền công tố. Căn cứ vào các quy định của Hiến pháp và pháp luật và thực tiễn thì từ trước đến nay quyền này giao cho duy nhất VKSND.
Chủ thể thực hành quyền công tố ở Việt Nam là VKSND. Pháp luật quy định một loạt những nhiệm vụ quyền hạn nhằm xác lập cho VKSND các quyền năng pháp lý cần thiết để thực hiện chức năng của mình trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử kẻ phạm tội. Việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân như nêu trên nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với kẻ phạm tội gọi là thực hành quyền công tố. Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát nhân dân thực 9 hiện các quyền năng pháp lý được nhà nước giao trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự (bao gồm cả xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm) nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó.
Từ những nội dung trình bày trên, có thể rút ra khái niệm: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự là việc Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp thực hiện các quyền năng do pháp luật qui định để bảo đảm các hoạt động điều tra được thực hiện theo đúng các qui định của pháp luật. Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án hình sự Kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động tư pháp của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Hoạt động KSĐT với tính chất là một chức năng cơ bản của Viện kiểm sát thì hoạt động đó có bản chất pháp lý là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bởi CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Theo đó, các cơ quan tư pháp có thẩm quyền có trách nhiệm khởi động hoạt động điều tra để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội.
Đồng thời, để bảo đảm cho các hoạt động tố tụng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, đòi hỏi phải có sự giám sát chặt chẽ của Viện kiểm sát thông qua hoạt động Kiểm sát điều tra. Vì vậy, Mục đích của kiểm sát điều tra: Là nhằm đảm bảo pháp luật được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh và thống nhất trong suốt cả quá trình điều tra vụ án hình sự. Đối tượng của kiểm sát điều tra (tức là những cái mà hoạt động kiểm sát điều tra tác động vào nhằm đạt được mục đích nêu trên): Là việc chấp hành pháp luật của CQĐT, là hành vi của các cán bộ, ĐTV được giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt 10 động điều tra, là các quyết định của CQĐT trong giai đoạn điều tra, là việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong suốt cả quá trình điều tra.