Chương 1: Một số van dé lý luận về thực hành quyền công tổ và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy Chương 2: Thực trạng công tác thực hành quyền công tô và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn hiện nay. Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành quyền công công và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Ha Giang. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE THUC HANH QUYEN CONG TO VA KIEM SAT DIEU TRA CAC VU AN VE MA TUY 1. Khai niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung của thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy.
Khái niệm, doi tượng, phạm vi, nội dung của thực hành quyền công tổ 1. Quyển công tổ Từ trước đến nay, có rất nhiều quan niệm, ý kiến phong phú về quyền công tố trong khoa học luật TTHS. Thực tiễn cho thấy, ở nước ta trong sách báo pháp lý đang có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân. Thế nhưng mỗi quan điểm lại nhìn nhận ở những góc cạnh khác nhau, đều đưa ra được những cái hợp lý, lý giải đều dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn ở nước ta nhưng theo quan điểm của tác giả các quan điểm đó van còn đang bộc lộ những bat cập nhất định.
Hoạt động công tố của Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện xuyên suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Trong giai đoạn điều tra, hoạt động công tô của Viện kiểm sát nhân dân có ý nghĩa hết sức quan trọng, có tính chất quyết định việc buộc tội, gỡ tội, đảm bảo truy tô đúng người, đúng tội, không dé xay ra oan sai, bỏ lọt tội phạm. Trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm va cải cách tư pháp hiện nay, hoạt động công tố càng phải được tăng cường, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa. Trong khoa học luật TTHS, việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất quan trọng.
Giải quyết tốt vấn đề đó giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống cơ quan nha nước nói chung và trong các cơ quan tư pháp nói riêng; xác định rõ chức năng của Viện KSND, đặc biệt là trong TTHS. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “Công” được hiểu là “thuộc về Nhà nước”, mang yêu tô công cộng, thuộc tính chung xã hội, trai ngược với “tư” là thuộc về cá nhân, cái riêng. “Tố” được hiểu là “trình bày công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người phạm tội khác”. “Công tố” là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biéu ý kiến trước tòa án”.
Từ điển Luật học cho rằng công tố là “quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội. được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật., không thê tách rời với việc nhân danh Nhà nước chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố tụng hình sự” [51, tr 188]. Do các quan niệm khác nhau về quyền công tố dẫn đến cách lý giải khác nhau về phạm vi thời gian cũng như không gian của quyền công tố. Về không gian, đa số các quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là tố tụng hình sự nhưng cũng có quan điểm cho rằng quyền công tố được thực hiện trong cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp như tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, kinh tế, lao động.
Về thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền công tố cũng chưa được nhận thức thống nhất. Ngay trong tố tụng hình sự cũng có người cho răng quyền công tố có trong cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; cũng có người cho rằng quyền công tô chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thâm mà thôi. Mỗi quan điểm nêu trên đều được lý giải trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn nước ta và dù ít hay nhiều đều có hạt nhân hợp lý. Tuy nhiên, các quan điểm đó van còn những điểm bat cập nhất định nhìn từ những khía cạnh quy định của pháp luật, khoa học cũng như thực tiễn.
Thể hiện ở chỗ: - Hoặc là thê hiện sự phụ thuộc của chức năng thực hành quyền công tố vào kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân; coi thực hành quyền công tổ chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tổ tụng hình sự. Vì vậy, dan đến xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là hoạt động độc lập của Viện kiểm sát nhân dân được nhà nước uỷ quyên; - Hoặc là đánh đồng thực hành quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Vì vậy, dẫn đến mở rộng phạm vi quyên công tố sang cả các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế. 10 - Hoặc là thu hẹp phạm vi quyền công tố, chỉ bó gọn quyền công té trong giai đoạn truy tố, xét xử sơ thâm vụ án hình sự.
Từ đó hạn chế quyền hạn cũng như trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân như là cơ quan có trách nhiệm chính trong truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Dé xác định khái niệm quyền công tố, cần phải khang định một số van dé sau: Thứ nhất, quyền công tổ là quyền của nhà nước. Nhà nước uy quyền cho cơ quan cụ thể thực hiện quyền này trong bộ máy cơ quan nhà nước phân quyền hoặc phân công thực hiện chức năng: thứ hai, quyền công tố về thực chất là quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Dé làm được điều đó, cơ quan được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố phải điều tra, xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa; thứ ba, quyền công tô mang tính cụ thể, tức chỉ xuất hiện trong trường hợp tội phạm cụ thể đã được thực hiện và đối với những người phạm tội cụ thé.
Khong ton tại quyén cong tố chung chung. Từ những nhận thức trên, có thé thấy quyên công tố là quyền của cơ quan nhà nước được nhà nước uỷ quyền thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhăm đưa người đó ra xét xử trước tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó. Quyên công tổ là quyền buộc tội nhân danh nhà nước đối với người phạm tội, do đó, đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. Nội dung của QCT là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội.
Theo từ điển Luật học “Quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh nhà nước đổi với người phạm tội” [44]. Theo từ điển Tiếng Việt: “Quyền công tố là quyền của các cơ quan nhà nước có thâm quyền (cơ quan công tố, xét xử, điều tra) dùng đề điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước tòa án hay là quyền truy tố, buộc tội cá nhân, tổ chức trước pháp luật. 11 Cũng có tác giả cho rằng công tổ là một quyền thuộc về xã hội và được thi hành nhân danh xã hội, bắt nguồn từ sự vi phạm của người phạm tội và nham mục đích buộc người phạm tội chịu sự trừng phạt do Toa án đại diện cho xã hội xét xử theo quy định của pháp luật. Quan điểm này tách bạch quyền công tố và thi hành quyền công tố đối với người phạm tội không có nguồn gốc từ nhà nước mà có nguồn gốc từ xã hội hay thuộc về xã hội.
Nhà nước chi là chủ thé nhân danh xã hội dé thi hành quyên công tó. Như vậy, quyền công tố có thé được khái niệm như sau: Quyền công tố quyền truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc về nhà nước, cơ quan được nha nước giao cho quyền này (ở nước ta là Viện kiểm sát nhân dân) thực hiện các hoạt động nhằm phát hiện điều tra tội phạm, điều tra, truy tố người phạm tội trước Toa án va bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa. Thực hành quyển công to: Từ “thực hành” được giải nghĩa trong từ điển Tiếng Việt có nghĩa là “làm dé áp dụng lý thuyết vào thực tiễn”, “thực hành” với “thực hiện” đồng nghĩa với nhau. VKSND sử dụng các quyền năng thuộc quyền công tố của trong suốt quá trình tố tụng.
Nhu vậy, thực hành quyền công tố thực chất là hoạt động đưa những quy định về quyền công tố thuộc chức năng của Viện kiểm sát nhân dân vào thực tế nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bi coi là tội phạm. Xuất phát từ những quan niệm về quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm tội (người phạm tội và pháp nhân phạm tội) thì thực hành quyền công tố là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình su dé truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm tội, truy tố chủ thé phạm tội ra trước Tòa án dé xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó. Dé buộc tội đối với chủ thé đã thực hiện hành vi phạm tội pháp luật đã quy định các hoạt động tố 12 tụng như: khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra thu thập chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, buộc tội đối với bị can, bị cáo và bảo vệ quan điểm truy tố. Quyền công tô và thực hành quyền công tổ là những khái niệm được nhắc đến nhiều trong Luật Tố tụng hình sự (TTHS) nước ta khi đề cập chức năng của Viện kiểm sát nhân dân.
Điều 138 Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên quy định Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật. thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất; các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình. Quy định đó cũng được nhắc lại trong Hiến pháp năm 1992.