TRUONG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI KỶ YEU HỘI THẢO KHOA HỌC TO TÂM LÝ HỌC - KHOA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ LÝ LUẬN VA THỰC TIEN HÀ NỘ - 6/2017 I MỤC LỤC SIT TEN BÀI VIET TÁC GIA Trang 1. |Phòng ngừa tội phạm từ góc độ tâm lý|TS. Chu Văn Đức 1 học hiện đại qua lý thuyết tương tác 2. | Phong ngừa tội phạm dưới gốc độ của | ThS.
Nguyễn Việt Khánh Hoa |9 nhà phân tâm học ~ Lý luận và thực tiễn Phong ngita tội phạm theo quan điểm của | TS. Bùi Kim Chỉ 7 vì ~ lý học hành tâm Lý luận va thực tiễn 4, _| Tée dung phòng ngàa tội phạm của hình|GV.NguyềnThànhLong — [23 phạt đưới góc độ tâm lý 5. [Phòng ngừa các tội phạm bạo lực từ góc | ThS. Dương Thị Loan |27 độ tâm lý học — Lý luận và thực tiễn 6.
[Phòng ngừa tội phạm về tham những từ| TS. 3 “sóc độ tâm lý học ~ Lý luận và thực tiễn 7. | Phòng ngừa tội phạm mại dâm từ góc độ | TS. Bài Kim Chỉ 4 tâm lý học — Lý luận và thực tiễn Phong ngừa các tội phạm về ma túy từ | ThS.
Dương Thi Loan |62 góc độ tâm lý học — Lý luận và thực tiễn 9%. [Phòng ngừa tội phạm do người chưa|TS.Lý Văn Quyền 5 thành niên thực biện từ góc độ tâm lý — Lý luận và thực tiễn PHONG NGỪA TOI PHAM TỪ GÓC ĐỘ TÂM LÍ HỌC HIEN ĐẠI QUA LÝ THUYẾT TƯƠNG TÁC TS. Đặtvấn đề Lê Văn Q, 27 tuổi, yêu chị H, 22 tuổi. Năm 2012, chị H lên tinh học.
Ở đây chi gặp rồi yêu anh N, vì thé chị H gọi điện nói lời chia tay với anh Q. Ngay hôm sau, Q đi xe máy lên tỉnh, hẹn gặp anh N để nói chuyện nhưng bị N từ chối. Tối hém đó, Q ngủ nhờ ở nhà người quen. Sáng hôm sau anh ta đã lấy một con dao của chủ nhà, giấu dưới yên xe máy, tim dén phòng trọ của chị H, thuyết phục chị H chim dứt quan hệ với N.
Chị H không đồng ý. Q tức giận, giật điện thoại của chị H ném xuống đất, sau đó ra lẫy con dao đặt lên giường và nói: “Bây giờ đứa nào phan bội, đứa đó phải chết". Chị H hoảng sợ, giả vờ di vệ sinh, rồi bắtngờ xô O, chạy ra đường và hô to: “Có kẻ giết người, có kẻ giét người, cứu, cứu. Q cằm dao chạy theo và khi dudi kip chị H thi đâm liên nếp vào người chị.
Kết quả Khám: "nghiệm nữ thi cho thấp chi H bị giết bởi 29 nhát dao. “Trong lịch sử lâu dai của tâm lí học, cuộc tranh luận về tính quyết định giữa con người (cá nhân, cá tính, nhân cách) và hoàn cảnh đối với hành vi luôn tồn tại dai ding. Cuộc tranh luận này đã đưa đến sự xuất hiện của quan điểm tương tác. (reciprocal determinism) rằng con người và hoàn cảnh tương tác lẫn nhau, cùng.
quy định hành vi và hành vi có tác động trở lại đối với cả con người và hoàn cảnh. Quan điểm này mang tính tổng hợp, dung hòa nhiều lý thuyết đối lập và có lẽ vì vậy nhanh chống được chấp nhận và trở nên thịnh hành trong tâm lí học hiện đại, vốn được đặc trưng bởi sự đa dang và sự sống chung tương đối hòa bình giữa các trường phái. Bài viết này sử dụng mô hình tương tác kết hợp với mô hình thông tin. = nhận thức để ban luận về phòng ngừa hành vi phạm tội.
Đài viết cũng sử dung tình huống phạm tội được mô tả ở trên như là ví dụ chính để phân tích, minh hoa. Lý thuyết tương tác và biện pháp phòng ngừa tội phạm. Lý thuyết tương tác xuất hiện từ cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa hành vi cực đoan vốn nhắn mạnh vai trò quyết định của hoàn cảnh, xem nhẹ yếu tố con người đối với hành vi, va Albert Bandura, nhà tâm If học nỗi tiếng người Mỹ, cha. đẻ của lý thuyết học tập xã hội được xem là tác giả chính.
Theo lý thuyết tương tác, 1 "hành vi cũng tác động trở lại con người và hoàn cảnh. Vi dụ, một người thích. đã tim đến ngày hội bia và ở đó anh ta được uồng bia thỏa sức. sau, anh ta luôn có mặt ở ngày hội bia.
Ap dụng lý thuyết này vào hành vi phạm. tội, chủng ta có sơ đồ dưới day: Toàn cảnh (inh huồng) ‘So đồ 1: Hành vi phạm tội theo lý thuyết tương tác Theo sơ 46 2, biện pháp phòng ngừa tội phạm có thể tác động vào con người, hoàn cảnh hoặc hành vi, hoặc đồng thời cả 3. Các biện pháp tác động vào con người Con người (cá nhân, cá tính, nhân cách) là một hệ thống mở phức tạp bao gồm nhiều thành phần, nhiều mặt có vai trò có thể không như nhau trong quan hệ với hành vi. Ở đây, sẽ xem xét: các đặc điểm sinh vật, các đặc điểm được hình thành, các tiến trình trí tuệ (nhận thức), cảm xúc bao gồm cả được ý thức vả không.
được ý thức, Cée đặc diém sinh vật “Con người trước hết là một sinh vật”, 'Sinh lý là nền tảng của tâm lí và hành vi”, v. Day là những câu nói mà chúng ta thường nghe thấy khi nhì nhận về con người, về bản năng, về các đặc điểm bam sinh di truyềnở con người, ý muốn nhắn manh vai trò quan trong của chúng đổi với tư duy và hành vi của con người. Vậy các đặc điểm này có vai trò như thé nào đối với hành vĩ nói chung và 3 hành vi phạm tội nói riêng? Trong lich sử tư tưởng nhân loại, không ít nhà tư tưởng, nhà khoa học (không chỉ đơn thần là nhà tâm lí học) xem các đặc điểm sinh. vật là yếu tố quyết định hành vi.
Vi dụ, Franz Joseph Gall (1758-1828), cha đẻ của thuyết định khu chức năng của não và khoa tướng sọ học, cho rằng các khả nang ở con người ở những mức độ khác nhau và tit cả đều bẩm sinh [3, tr. Với S, Freud (1856-1939) và nhiều nhà phân tâm học, các bản năng là khối quyết định hành vi, nếu như không phải tất cả thì hầu hết hành vi, kể cả hành vi phạm tội, được thúc đẩy bởi những xung năng có nguồn gốc từ khối bản năng. Các xung năng nay, hung hăng và mù quáng, có th phamé bắt chấp luân thường đạo lý, bat chấp các chuẩn mục đạo đức, pháp luật, bởi vậy ai trong chúng ta cũng có thể phạm tội và phòng ngừa tội phạm có nghĩa là: a, tạo rào cân để các xung năng không đưa đến hành vi trên thực tổ; 2, tao gn để giải toa các xung năng [11, 1r. Cho nên việc chọn nghề phủ hợp, ví dụ một người có tính gây hắn cao có thể làm nghề giết mé gia súc, việc này giúp anh ta giải tỏa phần nào hung tính ‘va trở nên hiền lành hơn; việc t6 chức các hoạt động, các hình thức vui chơi, thm chí thể thao mạo hiểm, bạo lực (đấm bỗ:) cũng có tác dụng.
Nguy hiểm là tỉnh "rạng sang năng không được giải t5a dẫn đến “nhàn cư vi bết thiện” như người xưa Theo kết quả nghiên ảnh hưởng của yếu tố di truyền trên các đặc điểm thể. chất, trí thông minh và nhân cách của Thomas Bouchard (1984) ở 4 mẫu cặp song. sinh: 1, khác trứng, được nuôi dưỡng chưng với nhau; 2, khác trứng, được nuôi dưỡng cách biệt; 3, cùng trứng, được nuôi dưỡng chung với nhau; 3, cùng trứng, được nuôi dưỡng cách biệt. Kết quả đưa ông đến kết luận về sự ảnh hưởng mạnh "mẽ của yếu tổ di truyền: thé lí giống nhau hầu như 100%, trí thông minh: 50-80% và cả các đặc tinh nhân cách (DT.
6 đại học Minnesota, nha tâm lí học nhân cách Auke Tellegen nghiên cứu các nét nhân cách ở 350 cặp song sinh, trong đó có 44 cặp song sinh cùng trứng .được nuôi đưỡng cách biệt nhau. Bằng cách cho họ lim một tập trắc nghiệm đánh giá 11 nét nhân cách, Auke Tellegen đã xác định được mức độ ảnh hưởng của gene di truyền đối với 11 nét nhân cách này là từ 61% (đối với nét thích có quyển lực. trong xã hội) đến 33% (thích rang buộc xã hội) [DT. 'Trong lĩnh vực tâm sinh lí tội phạm, nhà tâm lí học Adrian Reine (2002) đặc, biệt chú ý đến nền ting sinh lí của tội phạm.
Mới đây, năm 2013, sau hàng chục năm. nghiển cứu về tâm sinh lí tội phạm đã cho ra mắt cuốn The Anatomy of Violence: The Biological Roots of Crime, trong đó ông cho rằng “50% tội ác đã được ngầm quy định ‘rong bộ gene [5]. Niu vậy, có thể thấy rằng có nhiều công tình nghiên cứu của nhiều nhà tâm sinh lý học nỗi tiếng cho thấy các đặc điểm sinh học là yếu tố chính ảnh hướng đến "hành vi nói chung và hành vi phạm tội nối riêng, Va như B.R Hergenhan cho biết các nha khoa học này đề xuất mức ảnh hưởng 50% cho yếu tố di truyền, 50% còn lại cho. môi trường [3, tr.
Điều này có nghĩa rằng, trong việc phòng ngừa tội phạm. cần chú ý đến yếu tố sinh học. Tuy nhiên, ở nước ta, việc áp dụng những biện pháp. phòng ngứa tác động tr yếu trên sinh lý của người phạm tội, có lẽ là chưa có.
Ở Mỹ, với những trường hợp phạm tội ấu dâm và có hóc môn tinh đục cao có thé bị áp dụng biện pháp “thiến hóa học” tức là bị tiêm hóa chất làm suy giảm hoạt động của tuyến hóc 8 môn tình đục. Đây có lẽ là điều các nhà tư pháp nước ta cần xem xét nghiêm túc, nhất 1à sau hàng loạt vụ lạm dung tinh dục trẻ em được phát hiện trong thời gian qua. Quay trở lại với hành vi phạmtội eda Lé Văn Q, do không có thông tin về pha hệ của Lê Van Q, chúng ta rét khó nói đến vai trd của các đặc điểm sinh học ở đây. Tuy vậy, hành vi của Q cũng cho thấy những đặc tính nhân cách chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố di truyền theo nghiên cứu của Auke Tellegen như kiểu phản.
đứng cảm xức, phấn ứng với stress. Ngoài ra cũng có thể nhận thấy rằng Q bị đồn. nnến ghê gớm về cảm xúc. “Các đặc tính hình thành trong qué trình sống, 8 Phin lớn các nhà tâm If học thừa nhận sự hiện diện và ảnh hưởng của các .đặc điểm nhân cách được hình thành trong cuộc đời trên hành vi con người.