Đặt vấn đề Giám định tâm lí (GDTL) trong tố tung hình sự là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ trong quá tình giải quyết vụ án hình sự, dân sự, Trên thé giới, nó đã được sử dụng từ thé kỷ 19, còn ở nước ta, một cách thuần tuý, loại giám định này chưa được tiến hành, mà chỉ mới có loại giám định hỗn hợp pháp y tâm thần trong đó có sự tham gia của chuyên gia tam Ii trong (hành phần hỏi đồng giám định. Phải chăng, thực tiễn hoạt động tố tụng ở nước ta không đồi hỏi hoặc chưa có cơ sở pháp lý cho loại giấm định mây? Về vẫn đề giám định, Khoản 1 và 3 điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy di 1. Khi có những vấn đt được xác định tại khoản 3 Điều này hoặc Hi xét thắp cần thắt thì cơ quan iến hành tổ tang ra quyết định trưng cầu giám định. Bắt buộc phải trưng cầu giảm định khi cần xác định: a, Nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao đăng; b, Tình trạng tâm than của bị can, bị cáo trong trường hợp cỏ sự nghỉ ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của ho; e, Tình trạng tâm than của người làm chứng hoặc người bị hai trong trường hợp có sự nghỉ ngờ về khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn đối với những tình tiết của vụ án; d, Tuổi của.
bi can, bị cáo, người bị hại, nếu việc đó có ý nghĩa đối với và án và không có lõi liệu khằng định ti của họ hoặc có sự nghỉ ngờ về tinh xác thực của những tài liệu đó; d, Chất đội chất ma tuý, chất phóng xa, tiên giả. Như vậy, mặc dù không nêu địch danh loại giám định tâm ff nhưng luật không loại trừ nó. Hơn nữa, trong các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định mà luật quy định ở trên thi ít nhất có hai trướng hợp (điểm b và c, khoản 3) có liên quan đến giám định tâm lí. Tính đền tính phd biến của giám định tâm lí trong lĩnh vực t6 tụng ở các nước phát triển và tương lai của nó ở nước ta, trong bai viết này, tác giả Xin giới thiệu một cách khái quát về loại hình giám định này chủ yếu là ở Liên bang Nga.
2, Sơ lược lịch sử GĐTL, Ở Liên bang Nga, cũng như nhiều nước khác thuộc châu Âu, giám định. tâm lí bắt đầu có từ cuối thế kỳ 19 đầu thế kỷ 20. Sự xuất hiện của loại hình. giám định này gắn liền với tên tuổi của nhiễu nhà tâm If học, hình pháp học nổi tiếng như V, Stem, G, Gross, K.Trong các tác phẩm: Lời khai của nhân chứng thanh niên về tội phạm liên quan đến tình dục (V.
Stern), Tâm tội phạm(G. Gross), Nhà tâm lí với tư cách lá nhà giám định.đều có bàn đến giám định tâm lí. Bộ luật tổ tụng hình sự Nga. năm1922 đã quy định trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định tâm lí nếu điều tra viên hay thẳm phán có sự nghỉ ngờ về trạng thái tâm lí của bị can, ‘bj cáo hay người làm chứng.
Vào những năm 30 của thé kỷ 20, do thiếu những. phương pháp khoa học cân ết, giám định tâm li bị chi trích nặng né và việc nhiên cứu cũng như sử dụng nó trên thực tiễn bị ngưng trệ. Phải đến những, năm 50— 60, nó mới dần được phục hồi và phát triển. Những trường hợp trưng cầu GĐTL.
2 Ngày nay, GĐTL là một trong những loại giám định phổ biến cà trong. Tổ tụng hình sự và dân sự. Đối tượng của GDTL được xác định lũ những trang thái tình thần không bình thường nhưng không mang tính bệnh lí và có ý nghĩa đối với việc xác định sự thật của vụ án. Các trường hợp trưng cầu GDTL cũng bao gồm 2 loại: những trường hop bắt buộc phải trưng cầu GĐTPTL và những trường hợp xét thấy cần thiết.
_ Những trường hợp-bắt buộc phải trưng cầu GĐTPTL bao gâm: @. Có sự nghỉ ngờ về sự chậm phát triển trí tuệ đối với bị can, bị cáo la người chưu thành niên. “Trong trường hợp này, GĐTL được trưng cầu sau giám định pháp y tâm. thần và có những đấu hiệu cho thấy khả năng chậm phát triển tâm li.
Dầu hiệu của chậm phát triển tâm Ii là - Sự du tữ trong ứng xử và tư duy (hành vi và suy luận không tương, thích với lứa tuổi), thiếu khả năng suy luận độc lập; - Sự không tương thích giữa động cơ với mục đích và nội dung của hành vi; ~ Tính mye đích và tính phê phán của hành vi bị biến loạn; ~ Mắt năng lực điều chinh xã hội đối với hành vi, 'Ở đây, các chuyên gia 18 lí tưu ý rằng, việc học tập dở giang hay kết quả học tập yếu kém không phải là dấu hiệu của sự chậm phát triển tâm li, hi có một hay dấu biệu nêu trên thì có thé trưng cầu GĐTL. Trong quyết định trưng cầu GĐTL cần phải néu rõ những các vấn dé mà hội đồng GD cần làm rõ. Trong trường hợp này, các câu hỏi có thể được néu như. sau: 1, Có hay không sự chậm phát triển tâm lí so với lứa tuổi ở người chưa.
21 thành niên và hó biểu hiện qua những dấu hiệu nào? 2, Trên phương điện ttm Ti học 06 thé kết luận rằng sự chậm phát triển tâm lí. đó cản trở sự nhận thức. đẩy đủ hay một phan ý nghĩa của hành vi hay không? 3, Người chưa thành. niên có thé điều khiển hành vi của mình ở mức độ nào? b.
Trường hợp có sự nghỉ ngờ về về khả năng nhận thức và khai báo. “đúng dtin đối với những tình tiết của vụ án. 'GĐTL có khả năng xác định ngưỡng tuyệt đối và ngưỡng sai biệt của. cảm giác, những đặc điểm của cảm giác màu sắc, khối lượng tri giác, đặc điểm của tri giác thời gian, tri giác vận động, những thuộc tính kbông gian của sự.
vật, hiện tượng. Bên cạnh đó, từ lâu trong tâm lí học người ta đã biết rằng có. sự khác biệt cá nhân khá lớn về năng lực trí nhớ, tư duy, tưởng tượng và những đặc điểm nhân cách như tính dễ bị ám thị, khuynh hướng gia tăng, tưởng tượng. Trong trường hợp có sự nghỉ ngờ về về khả năng nhận thức và kbai báo.
đúng din đối với những tình tiết của vụ án, cơ quan ra quyết định trưng cầu. giám định cân nêu yêu câu giám định để làm rõ những khác thường về tâm lí ở. người làm chứng hay người bị hai, chẳng hạn như: có hay không ở họ những, sai lệch lớn trong tri giác những sự vat, hiện tượng nhất định; có hay không tính d& bị ám thị và nếu có thì chúng có phải là nguyên nhân dẫn đến những, sai lệch trong nhận thức thông tin mà khách thể giám định tiếp nhận hay không). e Khi có sự nghỉ ngờ về trạng thải bắt khả kháng của nạn nhân trong, các vụ án hiếp dâm.
Tình trạng bắt khả kháng biểu hiện đa dang và có thé có nhiều nguyên. nhân khác nhau: thể chất yếu, bệnh ¡h trạng say rượu, bị ép buộc, mắt năng lực đánh giá tình huống. Câu hoi được nêu lên trong trường hợp này có thể là: 1, Nạn nhần có ở trong tinh trạng bắt khả kháng hay không? 2, Nạn nhân có thé nhận thức được tính chất và ý nghĩa xã hội của hành vi mà người khác lâm với mình hay không? Một trong những trường hợp điển hình của tinh trạng bắt khả kháng là người bị hai không hiểu tinh chất của hành vi được thực hiện với mình. Trong trường hợp này, tình trạng bắt khả kháng có thé có nhiều nguyên nhân: 1, Bệnh tâm thần man tính; 2, Trạng thái tinh thần không bình thường vào thời điểm xảy ra hành vi giao cấu; 3, Sự chậm phát triển tâm lí; 4, Đặc điểm lứa tuổi và giới tính của người bị hại.
Trong những tình huống nay thì ở trường. hợp thứ nhất cần trưng cầu giém định pháp y tâm thần, trường hợp thứ hai — giám định y - tâm If, còn trường hợp ba và bốn — giám định tâm lí. Cb sự nghi ngờ rằng người phạm tội ở trong trang thái bị kích động mạnh. “Trạng thái bị kích động mạnh là trạng thái tinh thân bị kích thích cực.
độ, xuất hiện bắt ngờ, trong chốc lát, được đặc trưng bởi sự rối loạn ý thức. Nguyễn nhân xuất hiện trang thái bị kích động mạnh là do kích thích siêu mạnh hoặc kết quả của một thời gian dai tích ty những tác động sang chắn. Sự suy giảm khả năng nhận thức trong trạng thái bị kích động mạnh gắn liền với sự suy giảm năng lực điều khiển hành vĩ. Xét đến thực tẾ này, luật quy định trang thái bị kích động mạnh là tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự ‘Cu trúc tâm lí của trạng thái bị kích động mạnh bao gồm sự suy giản Kha ning nhậu thức, sự tích cực hoá các các hành động bột phat dưới mức ý thức, sự phong toà khả năng giám sát hành vi.
Trong trường hợp như vậy, mục dich chính của hành vi được nhận thức một cách mơ hd, lẫn lộn. 23 Tiến hành GĐTL trong trường hợp này, các giám định vi phải tra cầu hỏi: vào thời điểm thực hiện hành vi tri uật, khách thể giám định có ở trong trạng thái bị kích động mạnh hay không. + Trưng cầu GĐTL khi xét thấy cần thiết Ngoài những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu GĐTL ở trên, trong thực tiến hoạt động điều tra, xết xử các vụ án. sự còn có những trường.
hợp cơ quan tiến hành tổ tụng trưng cầu GĐTL khi xét thấy cần thiết. Những, trường hợp này bao gồm: a. Trường hợp cần xác định tác giả của văn bản theo đặc điểm tâm lí (GD tâm le ngón ngữ. ‘Tai liệu viết - một trong những đối tượng nghiên cứu cơ bàn nhất trong.
‘oat động tố tụng, chúng luôn hàm chứa đặc điểm tâm lí của ni i viết Trang trường hợp ngời viết bị ép buộc viết theo ý của người khác thì nó lại hàm chứa. những "đấu vất” tâm lí, những đặc trưng cá nhân về mặi ngôn ngữ của người nay. Qua việc giảm định tài liệu viết có thể chỉ ra quan điểm, lập trường, khuynh hướng chủ đạo của tác gi, các biểu cảm, phong cách ngồn ngũ và những đặc trung về lứa tối, tinh, sắc tộc. in ngưỡng của họ.Việc giám định những đặc trun nay do chuyên gia tâm lí = ngôn ngũ hoặc các chuyên gia tâm lí và ngôn ngữ phối hợp thực hiện.
Trường hợp cân xác định trang thai tinh thần không mang tính bệnh lí của người tự tử.