Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Đà Nẵng là đô thị loại I trực thuộc Trung ương, giữ vị thế trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục và du lịch trọng điểm của khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh cùng sự gia tăng dòng người nhập cư và du khách đã tạo ra nhiều áp lực đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Trong giai đoạn 2016 - 2020, toàn địa bàn thành phố ghi nhận 2.447 vụ phạm pháp hình sự, trong đó tội phạm cướp giật tài sản chiếm 151 vụ với 120 đối tượng bị bắt giữ. Dù chỉ chiếm tỷ trọng 6,17% trong tổng số án hình sự, loại tội phạm này lại có tính chất đặc biệt nguy hiểm, diễn biến phức tạp và gây bức xúc lớn trong dư luận xã hội.

Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện vai trò của lực lượng Cảnh sát Nhân dân trong phòng ngừa tội cướp giật tài sản tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016 - 2020. Mục tiêu trọng tâm là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng hoạt động phòng ngừa nghiệp vụ và phòng ngừa xã hội, từ đó đưa ra dự báo và giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa đến năm 2030. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng lực lượng Cảnh sát Nhân dân đã điều tra, khám phá được 92 trên tổng số 151 vụ án (đạt tỷ lệ 60,9%). Nghiên cứu này đóng góp cơ sở dữ liệu thực chứng và luận cứ khoa học quan trọng giúp lực lượng thực thi pháp luật tối ưu hóa quy trình tuần tra, kiểm soát địa bàn và kiềm chế sự gia tăng của tội phạm chiếm đoạt tài sản trên đường phố.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ an ninh trật tự và các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong công tác phòng chống tội phạm. Về mặt lý thuyết chuyên ngành, đề tài vận dụng hai học thuyết tội phạm học cốt lõi: lý thuyết về nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm và lý thuyết hệ thống về phòng ngừa tội phạm.

Khung lý thuyết phân định rõ phòng ngừa tội phạm theo nghĩa rộng (kết hợp các biện pháp kinh tế, xã hội, quản lý nhà nước để triệt tiêu nguyên nhân phát sinh tội phạm) và theo nghĩa hẹp (hoạt động chuyên trách nhằm ngăn chặn trực tiếp, không để hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế). Nghiên cứu chuẩn hóa bốn khái niệm trọng tâm: tình hình tội cướp giật tài sản, phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ của Cảnh sát Nhân dân và vai trò nòng cốt xung kích của lực lượng Công an Nhân dân theo quy định của Hiến pháp 2013, Luật Công an Nhân dân 2018 cùng Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ báo cáo thống kê định kỳ của Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Đà Nẵng, Công an thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016 - 2020 và nguồn dữ liệu sơ cấp qua khảo sát thực chứng. Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm 35 bản kết luận điều tra và 35 bản án hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản đã có hiệu lực pháp luật, phân tích chi tiết thông tin của 51 bị cáo và 83 người bị hại.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cao nhất về tính chất, thủ đoạn phạm tội và cơ cấu địa bàn trọng điểm. Tác giả kết hợp đồng bộ phương pháp thống kê hình sự, phân tích định lượng, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và phương pháp chuyên gia. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, đo lường chính xác các biến số về nhân thân người phạm tội, thời gian, không gian gây án, đồng thời cho phép đánh giá đa chiều hiệu quả của các biện pháp nghiệp vụ mà lực lượng Cảnh sát Nhân dân đã triển khai trên thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tế từ 151 vụ cướp giật tài sản và 51 bị cáo được xét xử trong giai đoạn 2016 - 2020 tại thành phố Đà Nẵng mang lại các phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, phân bố không gian và tính chất tập trung cao: Tội phạm cướp giật tập trung nhiều nhất tại các quận trung tâm du lịch và dịch vụ sầm uất gồm Hải Châu (21,8%), Sơn Trà (21,8%), Ngũ Hành Sơn (17,3%) và Thanh Khê (15,5%). Bốn quận này chiếm tới 76,4% tổng số vụ án cướp giật của toàn thành phố.

Thứ hai, phương thức thủ đoạn tinh vi và tính chất đồng phạm: Có 65,7% số vụ án được thực hiện dưới hình thức đồng phạm với sự phân công vai trò chặt chẽ giữa đối tượng trực tiếp giật tài sản và đối tượng cản địa. Tỷ lệ đối tượng sử dụng xe mô tô phân khối lớn làm phương tiện gây án lên tới 88,6% (31 trên 35 vụ án mẫu), tạo điều kiện tẩu thoát nhanh chóng trên các tuyến giao thông huyết mạch.

Thứ ba, cơ cấu thời gian gây án: Khung giờ từ 18h00 đến 24h00 chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,3% tổng số vụ (73 vụ), tiếp theo là khung giờ từ 06h00 đến 18h00 chiếm 29,8% (45 vụ) và từ 00h00 đến 06h00 chiếm 21,8% (33 vụ). Khung giờ từ 18h00 đến 21h00 được xác định là thời điểm thuận lợi nhất cho tội phạm hoạt động do mật độ giao thông đông đúc và người dân dễ mất cảnh giác.

Thứ tư, đặc điểm nhân thân người phạm tội và nạn nhân: Trong số 51 bị cáo, nam giới chiếm 96,0% và độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi chiếm 62,7%. Đáng chú ý, 90,1% người phạm tội không có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp bấp bênh; 66,7% là đối tượng tái phạm có tiền án, tiền sự; 80,4% phạm tội vì động cơ vụ lợi cá nhân như lấy tiền chơi game, mua ma túy. Về phía nạn nhân, 68,7% là nữ giới và 11,0% là khách du lịch quốc tế, thường bị cướp giật túi xách (31,1%), dây chuyền vàng (28,4%) hoặc điện thoại di động (15,6%).

Thảo luận kết quả

Các số liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ tròn về tỷ lệ tài sản bị chiếm đoạt và biểu đồ cột so sánh phân bố tội phạm theo các khung giờ trong ngày. Kết quả cho thấy tỷ lệ điều tra khám phá án cướp giật đạt trung bình 60,9% (92/151 vụ), có cải thiện mạnh mẽ vào năm 2020 khi đạt 83,3% (15/18 vụ).

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Đông Nam Bộ, tình hình cướp giật tài sản tại Đà Nẵng có số lượng tuyệt đối thấp hơn nhưng tính chất phức tạp không hề thua kém. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường, tình trạng thanh thiếu niên thất nghiệp, nghiện ma túy và việc người dân, du khách còn sơ hở khi mang tài sản có giá trị lớn trên đường phố. Bên cạnh đó, số lượng tội phạm ẩn trong thực tế vẫn tồn tại do tâm lý e ngại khai báo của nạn nhân khi tài sản thiệt hại nhỏ hoặc lo sợ thủ tục hành chính kéo dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao vai trò nòng cốt của lực lượng Cảnh sát Nhân dân trong công tác phòng ngừa tội cướp giật tài sản, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Một là, tối ưu hóa công tác tuần tra kiểm soát công khai kết hợp trinh sát mật phục. Công an thành phố Đà Nẵng cần tái cơ cấu lịch trình tuần tra của các Tổ công tác 911 và Đội Cảnh sát hình sự, tập trung 70% quân số vào khung giờ cao điểm từ 18h00 đến 24h00 tại 4 quận trọng điểm (Hải Châu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Thanh Khê). Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ điều tra khám phá án cướp giật lên trên 85% và kéo giảm tối thiểu 15% số vụ việc phát sinh mỗi năm trong lộ trình 2021 - 2025.

Hai là, hiện đại hóa hệ thống giám sát an ninh bằng công nghệ số. Lực lượng Cảnh sát Nhân dân phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông thành phố phủ kín hệ thống camera AI nhận diện biển số xe và phân tích chuyển động tại 100% các nút giao thông phức tạp, khu vực bãi biển và tuyến đường du lịch trọng điểm trước năm 2025 nhằm rút ngắn thời gian truy xét nóng đối tượng xuống dưới 60 phút sau khi tiếp nhận tin báo.

Ba là, siết chặt quản lý cư trú và kiểm soát nhóm đối tượng nguy cơ cao. Cảnh sát khu vực cần lập hồ sơ quản lý chặt chẽ 100% người có tiền án, tiền sự về tội xâm phạm sở hữu, thanh thiếu niên hư hỏng, người nghiện ma túy tại nơi cư trú, phấn đấu hạ tỷ lệ tái phạm trong các vụ án cướp giật từ mức 66,7% hiện nay xuống dưới 40% trong giai đoạn 2022 - 2026.

Bốn là, đổi mới công tác tuyên truyền phòng ngừa xã hội và bảo vệ an toàn cho du khách quốc tế. Công an các quận, huyện phối hợp chặt chẽ với Sở Du lịch và Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng phát hành cẩm nang an toàn đa ngôn ngữ tại sân bay, khách sạn, bãi biển, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ nạn nhân là du khách nước ngoài từ 11% xuống dưới 5% trong giai đoạn tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

Thứ nhất, lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ trinh sát thuộc lực lượng Cảnh sát hình sự, Cảnh sát trật tự, Cảnh sát khu vực: Cung cấp tư liệu thực chứng về phương thức hoạt động, quy luật thời gian, không gian của tội phạm để bố trí lực lượng tuần tra và xây dựng kế hoạch nghiệp vụ sát với thực tế địa bàn.

Thứ hai, cấp ủy Đảng, Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân các cấp tại thành phố Đà Nẵng: Là căn cứ thực tiễn để ban hành các nghị quyết, chỉ thị chuyên đề về an ninh trật tự, kết hợp phát triển kinh tế du lịch với nhiệm vụ giữ gìn an toàn cho cộng đồng.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học, sinh viên tại các học viện, trường Đại học thuộc khối ngành Luật học, An ninh và Cảnh sát Nhân dân: Sử dụng làm tài liệu tham khảo giá trị trong học tập, giảng dạy môn Tội phạm học, Điều tra hình sự và Khoa học phòng ngừa tội phạm.

Thứ tư, các doanh nghiệp dịch vụ lữ hành, chuỗi khách sạn và ban quản lý các khu du lịch: Tham khảo để xây dựng quy trình cảnh báo an ninh, đào tạo kỹ năng tự phòng vệ và bảo vệ tài sản cho nhân viên và khách du lịch.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ điều tra khám phá tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng giai đoạn 2016 - 2020 đạt mức nào?
Trong giai đoạn 2016 - 2020, lực lượng Cảnh sát Nhân dân thành phố Đà Nẵng đã điều tra, khám phá 92 vụ trong tổng số 151 vụ cướp giật tài sản, đạt tỷ lệ trung bình 60,9%. Đáng chú ý, tỷ lệ khám phá có sự chuyển biến mạnh mẽ theo thời gian, từ 60,6% năm 2016 lên mức cao nhất là 83,3% vào năm 2020.

Tại sao tội phạm cướp giật tài sản tập trung phần lớn ở độ tuổi thanh niên từ 18 đến 30 tuổi?
Khảo sát 51 bị cáo cho thấy nhóm tuổi từ 18 đến 30 chiếm tới 62,7%. Nguyên nhân chính do đây là độ tuổi có thể lực, dễ bị cám dỗ bởi lối sống hưởng thụ, thiếu việc làm ổn định (chiếm 90,1%) và cần tiền chi tiêu cho các tệ nạn như ma túy, cờ bạc, chơi game trực tuyến (chiếm 80,4%).

Yếu tố nào dẫn đến tỷ lệ đối tượng tái phạm tội cướp giật lên tới 66,7%?
Thực tế nghiên cứu cho thấy 34 trên 51 bị cáo (66,7%) là người tái phạm hoặc đã có tiền án, tiền sự. Nguyên nhân bắt nguồn từ công tác quản lý, giáo dục người chấp hành xong án phạt tù tại cơ sở còn lỏng lẻo, định kiến xã hội khiến đối tượng khó tìm việc làm, dẫn đến con đường tái phạm tội chuyên nghiệp.

Khung giờ và loại tài sản nào có nguy cơ bị cướp giật cao nhất tại đô thị?
Khung giờ từ 18h00 đến 24h00 ghi nhận số vụ cướp giật cao nhất với 73 vụ (chiếm 48,3%), đặc biệt tập trung vào khoảng 18h00 - 21h00. Tài sản bị nhắm tới nhiều nhất là túi xách (31,1%) và dây chuyền vàng (28,4%) do đặc tính gọn nhẹ, dễ tháo giật và dễ tiêu thụ trên thị trường.

Lực lượng Cảnh sát Nhân dân giữ vai trò gì trong mô hình phòng ngừa tội phạm tổng thể?
Cảnh sát Nhân dân giữ vai trò nòng cốt và xung kích thông qua 4 nhóm nhiệm vụ: tham mưu chính sách cho cấp ủy, chính quyền; trực tiếp triển khai biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ; tổ chức điều tra, xử lý nghiêm minh tội phạm và phối hợp vận động toàn dân tham gia bảo vệ an ninh trật tự.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng 151 vụ cướp giật tài sản và xử lý 120 đối tượng tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016 - 2020, khẳng định vai trò nòng cốt của Cảnh sát Nhân dân trong bảo đảm an ninh đô thị.
  • Đề tài làm rõ các đặc trưng tội phạm học điển hình: 88,6% sử dụng xe gắn máy tốc độ cao, 65,7% có đồng phạm cản địa, 48,3% gây án trong khung giờ từ 18h00 đến 24h00.
  • Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ tái phạm đáng báo động ở mức 66,7% và 90,1% bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, cung cấp cơ sở để cơ quan chức năng hoàn thiện chính sách tái hòa nhập cộng đồng.
  • Hệ thống giải pháp được đề xuất với lộ trình thực hiện giai đoạn 2021 - 2026 nhằm nâng tỷ lệ điều tra án cướp giật lên trên 85% và bảo vệ an toàn tuyệt đối cho người dân cùng du khách quốc tế.
  • Các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo luật học và lực lượng công an các cấp có thể khai thác, ứng dụng trực tiếp các luận cứ khoa học từ công trình nghiên cứu này để xây dựng phương án phòng ngừa tội phạm phù hợp với từng địa bàn cụ thể.