Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, nhiệm vụ và ý nghĩa của điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm điều tra vụ án hình sự Theo “Giáo trình tố tụng hình sự Việt Nam” của trường Đại học luật Hà Nội, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2006: “Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự; trong đó cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra được sử dụng một số biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án. Đồng thời thông qua hoạt động điều tra, xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa đối với các cơ quan và tổ chức hữu quan” [31].
Từ khái niệm này, ta có thể nhận thấy một số đặc điểm như: Thứ nhất, điều tra vụ án hình sự là một trong những giai đoạn của tố tụng hình sự. Thứ hai, để bắt đầu giai đoạn điều tra vụ án hình sự thì CQĐT phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng việc ban hành bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố người bị nghi phạm tội trước Tòa án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án. Nếu áp dụng thủ tục rút gọn, CQĐT không phải làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ cho VKS khi kết thúc điều tra. Thứ ba, để thu thập chứng cứ chứng minh có sự việc phạm tội, người thực hiện tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như các tình tiết khác có liên quan đến vụ án trong giai đoạn điều tra thì CQĐT được áp dụng mọi biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự.
Đồng thời, CQĐT sẽ kiến nghị biện pháp phòng ngừa với cơ quan và tổ chức hữu quan. Nhiệm vụ và ý nghĩa của giai đoạn điều tra vụ án hình sự Nhiệm vụ và ý nghĩa của giai đoạn điều tra còn có sự khác nhau ở các giáo trình, tài liệu nhưng từ thực tiễn hoạt động điều tra có thể khái quát như sau: 7 - Thứ nhất, khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội hay có tố giác hoặc tin báo về tội phạm, CQĐT và các cơ quan có thẩm quyền có nhiệm vụ thu thập các chứng cứ để xác minh có hay không sự việc phạm tội xảy ra, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, do một người hay nhiều người thực hiện và có đồng phạm hay không, vai trò, tính chất, mức độ tham gia của mỗi người trong vụ án đồng phạm để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án, hành vi của họ có thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự hay không… và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu thấy có dấu hiệu tội phạm. - Thứ hai, luật tố tụng hình sự quy định, trong giai đoạn điều tra CQĐT phải xác định được tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, kịp thời có biện pháp để đảm bảo cho việc bồi thường và khắc phục hậu quả, đưa ra kiến nghị, yêu cầu các cơ quan khắc phục các thiếu xót trong quá trình quản lý con người, quản lý tài sản và quản lý xã hội và những yêu cầu, kiến nghị phải được thực hiện nghiêm chỉnh bởi các cơ quan, các tổ chức và mọi người trong xã hội, đồng thời phải báo cáo các kết quả với cơ quan điều tra. - Thứ ba, trong quá trình điều tra phải xác định và làm rõ được những nguyên nhân và điều kiện phạm tội thông qua việc phải thu thập đầy đủ chứng cứ như lấy lời khai, nhận dạng, đối chất, khám nghiệm hiện trường… nhằm chứng minh tội phạm và tìm ra được những nguyên nhân, điều kiện phạm tội để từ đó có biện pháp khắc phục thích hợp.
Đồng thời kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, biện pháp phòng ngừa. Khái niệm, đặc điểm hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên 1. Khái niệm Kiểm sát viên - Xác định dựa vào việc thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên theo chức năng của VKS được thể hiện ở các văn bản sau: 8 Theo Từ điển Luật học thì: “Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ., thực hành quyền công tố” [36, tr.
Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 định nghĩa: “Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và …” [32, Điều 1]. Tuy nhiên, hai khái niệm này đã không còn phù hợp với thời điểm hiện tại. - Xác định dựa vào việc thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên là thực hành quyền công tố và đã được quy định tại Điều 74 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: “Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố…”. Như vậy, khái niệm này đã xác định đúng về nhiệm vụ của Kiểm sát viên và từ khái niệm trên, có thể nhận thấy một số đặc điểm sau: Thứ nhất, Kiểm sát viên là một công chức Nhà nước, là chủ thể tiến hành tố tụng và trực tiếp thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của VKS trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Thứ hai, theo GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: “Chức danh tư pháp chỉ những người thực hiện nhiệm vụ trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) được đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành nghề theo một chuyên môn nhất định, có danh xưng, được bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp luật khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định của pháp luật” [47, tr. Như vậy, Kiểm sát viên là một chức danh tư pháp, nhân danh Nhà nước tham gia vào các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật và tùy theo quan điểm của các quốc gia khác nhau thì được gọi là nghề công tố hay nghề kiểm sát. Thứ ba, khi được phân công thực hành quyền công tố Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng có quyền hạn, nghĩa vụ và phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các quyết định, hành vi tố tụng do họ thực hiện theo quy định của pháp luật. Như vậy, cả ba tư cách này của Kiểm sát viên đều gắn với hoạt động nghề nghiệp của họ.
Khái niệm, đặc điểm của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự Khái niệm quyền công tố trong khoa học luật ở Việt Nam được các nhà nghiên cứu đưa ra trong các công trình nghiên cứu và còn có nhiều quan điểm khác nhau. Nếu như chỉ hiểu theo nghĩa hẹp, thì nội dung của quyền công tố chỉ được thể hiện trong phạm vi (giới hạn) từ sau khi kết thúc việc điều tra tội phạm và vụ án hình sự được chuyển sang VKS để truy tố người đã thực hiện hành vi phạm tội trước Tòa án và chấm dứt sau khi Tòa án xét xử, tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật đối với người đó, tức là trong hai giai đoạn của hoạt động tư pháp hình sự - truy tố bị can ra Tòa và buộc tội bị cáo của VKS tại phiên tòa xét xử của Tòa án. Còn nếu như hiểu theo nghĩa rộng, thì nội dung của quyền công tố được thể hiện trong phạm vi (giới hạn) từ khi bắt đầu việc điều tra tội phạm, tiếp đó là vụ án hình sự được chuyển sang VKS để truy tố người đã thực hiện hành vi phạm tội trước Tòa án và chấm dứt khi Tòa án xét xử, tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật đối với người đó, tức là trong ba giai đoạn của hoạt động tư pháp hình sự - điều tra tội phạm, truy tố bị can và bị xét xử của Tòa án. Để xác định đúng đắn khái niệm về quyền công tố cần phải xuất phát từ những cơ sở có tính nguyên tắc sau đây: Một là, quyền công tố là quyền của Nhà nước, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và thay đổi theo bản chất Nhà nước.
Với tính cách là một quyền lực công, được bắt nguồn từ nhu cầu phải duy trì trật tự xã hội để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và những lợi ích chung có liên quan mà bất kỳ nhà nước nào (chủ nô, phong kiến, tư sản hay xã hội chủ nghĩa) cũng đều cần phải can thiệp duy trì vì đó là môi trường tồn tại của Nhà nước, là trách nhiệm xã hội của Nhà nước chứ không phải trách nhiệm cá nhân hay một nhóm người, bởi vì Nhà nước nói chung “dường như” là người nhân danh xã hội duy trì xã hội trong vòng trật tự. 10 Hai là, quyền công tố là quyền lực công nghĩa là khi có vụ việc xâm phạm lợi ích chung thì phải được phát hiện và đưa ra xử lý một cách công khai bằng con đường Tòa án. Đây cũng là điểm chung cơ bản giữa các quan điểm khác nhau về quyền công tố - quyền đưa vụ án ra Tòa và “buộc tội” người phạm pháp tại Tòa án. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, không có nghĩa cứ phải đưa vụ án ra Tòa mới là THQCT, vì cũng như các quyền năng tố tụng khác, nó được thể hiện ở các giai đoạn khác việc thực hiện quyền đó.
Các quyền năng ấy, trong đó có quyền công tố vì thế có thể bị triệt tiêu bất cứ lúc nào khi sự việc là đối tượng tác động của quyền công tố có đủ căn cứ để cơ quan tố tụng ra những quyết định tố tụng. Như vậy, để làm rõ phạm vi của quyền công tố không thể không xem xét đến các căn cứ làm triệt tiêu quyền công tố.