Chương 1: Những van dé chung về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thâm. Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và những điểm mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Chương 3: Thực tiễn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thâm và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thâm. NHUNG VAN DE CHUNG VE THU TUC XÉT HOI TAI PHIEN TOA HÌNH SỰ SƠ THẤM 1.
Khái niệm thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự Theo Từ điển tiếng Việt, thủ tục là “những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định, dé tiến hành một công việc có tính chính thức”!. Nhu vậy, thủ tục chứa đựng nội hàm là những việc cụ thé bắt buộc phải làm theo trật tự nhằm tiến hành công việc có tính chính thức. Còn những việc chung chung, thiếu cụ thể thì không coi là thủ tục. Xét hỏi trong TTHS là một thủ tục trong quá trình xét xử.
Bởi vì thủ tục này phải được tiến hành thông qua chính những hoạt động xét hỏi công khai do các chủ thể theo quy định của pháp luật thực hiện. “Xét hỏi” được giải thích trong Từ điển Tiếng Việt là một động từ chỉ việc “(Nhà chức trách) hỏi kỹ trực tiếp để phát hiện hành vi phạm pháp hoặc tìm kiếm sự thật về một vụ an, v. Nhu vậy về mặt ngôn ngữ, xét hỏi được hiểu một chủ thé có quyền hạn làm rõ một sự việc băng cách đặt câu hỏi trực tiếp cho người khác. Đề có thé làm rõ “thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thâm”.
Theo tác giả luận văn, dé cụ thé hóa va đưa ra định nghĩa khái niệm này cần phải làm rõ những nội dung sau: - Thời điểm tiễn hành thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Giải quyết vụ án hình sự là một quá trình rất khó khăn, phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau với sự tham gia của nhiều chủ thể vào quan hệ pháp luật TTHS. Mỗi giai đoạn tố tụng đều có một vị trí, vai trò nhất định trong việc tìm ra sự thật của vu an, trong đó, giai đoạn xét xử của Toa án được coi là trung tâm của quá trình TTHS. Ở giai đoạn này những chứng cứ, tài liệu thu được trước khi mở phiên tòa đều phải được đưa ra kiểm tra, xem xét một cách công khai, trực tiếp thông qua thủ tục xét hỏi tại phiên tòa.
Quan điểm về vụ án của các bên buộc tội, gỡ tội cũng được trình bày, được thê hiện rõ ràng, ' Trung tâm Từ điền học (1994), Tir điền tiéng Việt, Nxb Khoa học xã hội, tr. 927 2 Trung tam Từ điên học (1994), Tờ điên tiéng Việt, Nxb Khoa học xã hội, tr.1108 trực tiếp tại phiên tòa. Một phiên toà trang nghiêm, được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định sẽ là một trong những bảo đảm cho công tác xét xử được khách quan, chính xác, thể hiện được vai trò, vị thế của toà án trong việc thực hiện quyền lực của nhà nước trong lĩnh vực tư pháp. Pháp luật Việt Nam và đa số các nước trên thế giới việc xét xử được thực hiện theo nguyên tac hai cấp xét xử, trong đó xét xử sơ thẩm là cấp xét xử thứ nhất và xét xử phúc thầm là cấp xét xử thứ hai.
Tuy nhiên, không phải vụ án nào cũng trải qua hai cấp xét xử. Việc xét xử phúc thâm chỉ đặt ra khi có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Một số bản án sơ thâm nếu không bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật thì sẽ có hiệu lực và không phải xét xử ở cấp thứ hai. Việc thực hiện chế độ hai cấp xét xử có ý nghĩa quan trọng đối với quyền và lợi ích của công dân, nguyên tắc này bảo đảm một vụ việc được xem xét một cách kỹ lưỡng nhằm không bỏ lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội.
Ở phiên tòa sơ thâm và phiên tòa phúc thâm đều có thủ tục xét hỏi. Về cơ bản thủ tục xét hỏi tại hai phiên tòa này là giống nhau, tuy nhiên do khác nhau về nhiệm vụ và phạm vi xét xử của hai cấp xét xử này khác nhau nên dẫn đến có những điểm khác nhau nhất định về thủ tục xét hỏi ở hai phiên tòa sơ thâm va phúc thẩm. Giai đoạn xét xử sơ thấm và đặc biệt là phiên tòa hình sự sơ thâm là giai đoạn trung tâm của quá trình giải quyết một VAHS. Tại phiên tòa hình sự sơ thâm, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do cơ quan điều tra, VKS thu thập trong quá trình điều tra, truy tổ đều được Hội đồng xét xử kiểm tra, xem xét một cách trực tiếp, công khai tại phiên toà.
Hội đồng xét xử và những người có quyền xét hỏi trực tiếp đặt câu hỏi, trực tiếp xem xét vật chứng, tài liệu, xem xét tại chỗ dé làm rõ sự thật của vu án. Những người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ án được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận bình đăng tại phiên tòa, được công khai nêu quan điểm, những yêu cầu của mình đối với việc giải quyết vụ án. Đó là những việc mà tại CQDT họ không có điều kiện thực hiện. Xét xử sơ tham được coi như là đỉnh cao của quyên tư pháp, tại phiên toà, các chức năng buộc tội, gỡ tội và 10 xét xử được thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất.
Những lo âu của bị cáo, người bị hại và của những người tham gia tố tụng khác được giải toa tại phiên toà. Tâm lý nói chung đối với những người tham gia tố tụng là mong muốn vụ án nhanh được đưa ra xét xử để họ biết được Toà án sẽ phán quyết như thế nao’. Trong giai đoạn xét xử sơ thâm, có thé nói, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa là khâu trung tâm, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án, là cơ sở cho việc ra bản án, quyết định của Tòa án. Trên cơ sở những chứng cứ đã được xem xét trực tiếp tại phiên tòa tại phiên toà, Toà án ra bản án, quyết định giải quyết tat cả các van dé của VAHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, qua đó bảo vệ lợi ích của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, quyên và lợi ích hợp pháp của cá nhân.
Thời điểm tiến hành thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thâm là tại phiên tòa hình sự sơ thâm. Thời điểm thủ tục xét hỏi được tiến hành sau khi kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên tòa và được kết thúc khi xét hỏi xong. Đó là khi thâm phán chủ tọa phiên tòa nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét day đủ và người tiến hành tố tụng, người tham gia tô tụng không còn yêu cầu chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về vấn đề gì khác. Trên cơ sở đó hình thành những thông tin chính xác giúp cho việc tranh luận, nghị án và tuyên án được chính xác hơn.
Mặc dù việc xét hỏi là dựa vào kết quả của giai đoạn điều tra, truy tố nhưng chỉ những chứng cứ được xem xét tại phiên tòa thì mới được Hội đồng xét xử dùng làm căn cứ dé ra bản án, quyết định. Các thủ tục sau xét hỏi như tranh luận, nghị án và tuyên án hoàn toàn dựa vào kết quả của thủ tục xét hỏi. Khi tranh luận, nghị án có vấn đề nào đó cần xem xét mà chưa được làm rõ tại thủ tục xét hỏi thì HDXX phải quay trở lại phần xét hỏi. - Chủ thể xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Chủ thé có quyên xét hỏi tại phiên tòa về cơ bản đó là chủ thé xét xử, chủ thể thực hiện chức năng buộc tội và gỡ tdi.
Đề thực hiện chức năng tố tụng của mình, các chủ thê này có quyên xét hỏi đê làm rõ những tình tiét của 3 Dinh Văn Qué, Thủ tục xét xử sơ thẩm trong Tổ tụng hình sự Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Tks.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/33/, ngày truy cập 05/7/2017. Trên cơ sở kết quả của việc xét hỏi, các bên trong vụ án bảo vệ quan điểm của mình trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thấm va cũng trên cơ sở những chứng cứ được thu được qua việc xét hỏi tại phiên tòa, Tòa án ra bản án và quyết định. Tuy nhiên, tùy theo quy định của từng nước, ở từng thời kỳ khác nhau mà phạm vi chủ thé có quyền xét hỏi có thé rộng hẹp khác nhau. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì chủ thể có thầm quyền xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thấm đó là HĐXX, KSV, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và người giám định.
Do chức năng và tư cách tham gia tố tụng tại phiên tòa của các chủ thé này khác nhau nên phạm vi, nội dung xét hỏi cũng khác nhau. HDXX hỏi dé thu thập, kiêm tra, đánh giá chứng cứ một cách toàn diện vụ án để xác định sự thật khách quan của vụ án, làm căn cứ cho việc ra bản án và quyết định. KSV hỏi về các tình tiết của vụ án liên quan đến việc bảo vệ quan điểm buộc tội bị cáo; người bào chữa hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bào chữa (gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo); người bảo vệ quyền lợi của đương sự hỏi về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi cho đương sự; người giám định hỏi về những vấn đề liên quan đến việc giám định. Ngoài chủ thé có quyên xét hỏi, các chủ thé có quyền đề nghị xét hỏi gồm người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người giám định, bi cáo, bi hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng.