Kỷ Yếu Hội Thảo Khoa Học: Biện Pháp Cưỡng Chế Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam 2015

Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp khoa phân tích biện pháp cưỡng chế theo Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam năm 2015, cung cấp góc nhìn chuyên sâu và đánh giá pháp lý.

Người đăng

Ẩn danh
116
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH VỀ GIỮ NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

Tóm tắt

I. Giới thiệu về biện pháp cưỡng chế theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015

Biện pháp cưỡng chế theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015 là một phần quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nhằm đảm bảo việc thực thi pháp luật và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong quá trình tố tụng hình sự. Các biện pháp này bao gồm việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, và các biện pháp khác nhằm ngăn chặn tội phạm. Theo quy định tại Điều 109, các biện pháp này được áp dụng khi có căn cứ chứng minh rằng người bị buộc tội có thể gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố hoặc xét xử. Việc quy định rõ ràng các biện pháp cưỡng chế không chỉ giúp tăng cường tính hiệu quả của công tác điều tra mà còn bảo đảm quyền con người trong quá trình tố tụng.

II. Các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật

Các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015 bao gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, và cấm đi khỏi nơi cư trú. Mỗi biện pháp có những điều kiện và quy trình áp dụng riêng, nhằm đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong việc ngăn chặn tội phạm. Đặc biệt, biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp là một bổ sung mới, thể hiện sự tiến bộ trong việc bảo vệ quyền con người. Theo Điều 109, việc giữ người chỉ được thực hiện khi có căn cứ rõ ràng và phải được thực hiện trong thời gian ngắn nhất có thể để tránh xâm phạm quyền tự do cá nhân.

III. Đánh giá về tính hợp lý và thực tiễn của các biện pháp cưỡng chế

Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015 cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo tính hợp lý và khả thi trong thực tiễn. Một số quy định hiện hành vẫn còn thiếu sự thống nhất, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng. Chẳng hạn, quy định về quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp chưa rõ ràng, gây khó khăn cho các cơ quan thực thi pháp luật. Hơn nữa, việc thiếu sót trong quy định về thời gian giữ người cũng có thể dẫn đến việc xâm phạm quyền lợi của cá nhân. Do đó, cần có những nghiên cứu sâu hơn để hoàn thiện các quy định này, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong thực tiễn.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Kết luận, các biện pháp cưỡng chế theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015 là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các bên trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, việc thực hiện các biện pháp này cần phải được điều chỉnh và hoàn thiện hơn nữa để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả. Khuyến nghị cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế, đồng thời cần có các nghiên cứu và đánh giá định kỳ để cập nhật và điều chỉnh các quy định cho phù hợp với thực tiễn.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

‘TRUONG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI. KHOA PHÁP LUAT HÌNH SỰ. KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC BIEN PHAP CƯỠNG CHE |TRUNG TA THONG TRUONG DAIHOC LUẬT HA Hội [HÔNG bọc ATA. HÀ NỘI, NGÀY 29 THÁNG 5 NĂM 2018 MỤC LỤC Tên chuyên đề Tác giả Trang | "Những bắt cập trong quy định về giữ.

người trong trường hợp khẩn cấp của Trường Đại học Luật Hà Nội BLTTHS năm 2015 Mat số ý kiến về biện pháp bất bị TS. Phan Thị Thanh Mai 10 can, bị cáo để tạm giam “Trường Đại học Luật Hà Nội Biện pháp ngăn chặn lạm giữ theo “ThS. Trần Thị Thu Hiển 25 quy định của BLTTHS năm 2015 “Trường Đại học Luật Hà Nội Một số vấn đề về biện pháp ngăn ‘ThS. NCS, Nguyễn Thị Mai 34 chặn tạm giam theo quy định của “Trường Đại học Luật Hà Nội BLTTAS năm 2015 Một số vin để về sự trong thích của TS.

Mai Thanh Hiểu 45 pháp luật tổ tụng hình sự Việt Nam “Trường Đại học Luật Hà Nội với pháp luật quốc tẾ về biện pháp tạm giam Biện pháp cắm đi khỏi nơi cư trú ‘ThS. Dinh Hoàng Quang 52 theo Bộ luật tổ tụng hình sự năm “Trường Đại học Kiểm sát Hà 2015 Nội Bio lĩnh, đặt tiền để bảo đảm theo “ThS. Nguyễn Phương Anh 65 ‘uy định của BLTTHS năm 2015 “Trường Đại học Luật Hà Nội Biện pháp áp giải, dẫn giải trong Bộ ‘ThS. Đàm Quang Ngọc 78 uật t6 tụng bình sự năm 2015, Bộ Tư pháp.

Biện pháp cưỡng chế phong toa tải ‘THS. Ngô Thị Van Anh 86 Khoản trong tổ tụng hình sự “Trường Đại học Luật Hà Nội Một số vấn đề về biện pháp tạm ThS. Lê Thị Thuý Nga 98 hoãn xuất cảnh theo quy định của Học viện Tư pháp BLLTTHS năm 2015 Các biện pháp cường chế a Hải Ninh. Nguyễn 106 pháp nhân theo quy định của Bộ luật “Trường Đại học Luật Hà Nội tổ tụng hình sự năm 2015 NHUNG BAT CẬP TRONG QUY ĐỊNH VỀ GIỮ NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHAN CAP CUA BỘ LUẬT TO TUNG HÌNH SỰ NĂM 2015 TS.

Vũ Gia Lâm Trường Đại học Luật Hà Nội Khoản 1 Điều 109 BLTTHS năm 2015 quy định“để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tô người bị. buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, co quan, người có thẳm quyển tiến hành tổ tụng trong phạm vi thẳm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm: giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiễn để bảo đảm, cắm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh”. Theo quy định nói trên, có tắm biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng so với sáu biện pháp ngăn chặn quy định tại BL.TTHS năm 2003, trong đó *giữ người trong trường hợp khẩn cắp” là một biện pháp ngăn chặn mới được bổ. sung vào BLTTHS năm 2015.

Việc bổ sung, biện pháp ngăn chặn này là sự thé chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân. cân, trừ trường hop phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định” Quy định bổ sung biện pháp ngăn chặn "giữ người trong trường hợp khẩn cấp” cũng là việc triển khai thực hiện nguyên tắc “Bao đảm quyền bắt khả xâm phạm. về thân thé” quy định tại BLTTHS năm 2015 “Mọi người có quyền bắt khả xâm.

phạm về thân thể, Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết inh hoặc phê chuẩn của Vi kiếm sat, trừ trường hợp phạm tội quả tang. 'Việc giữ nguời trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam thải theo quy định của nay)? ‘Tuy nhiên, khi nghiên cứu các quy định của BLTTHS năm 2015 về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người bị giữ khẩn cấp, tạm giữ wv. chúng tôi thấy những quy định này vẫn chưa thật thống nhất với nhau. Điều này chic chắn sẽ làm xuất hiện những bắt cập, vướng mắc khi áp dụng vì có thé có ˆ Stu biện php ngan chan quy định gh BLITHS năm 2003 là it, tạm ga, tạm giam, cắm đi khôi ng cơ tủ ảo nh gt tn hobe ti sa có gi ị để bảo đảm 20 Hiền php năm 2013.

Xem: Khoin2 Diệu >Xem: Điu 10 BLTTHS nim 2015 cách hiểu và áp dụng khác nhau. Trước hết là sự chưa thống nhất trong quy định. tại các Điều 109 và Điều 110 BLTT nămHS 2015, Khoản | Điều 109 BLTTHS quy định: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm. hoặc khi có _ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gấy khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hanh án, cơ quan, người.

có thẩm quyển tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp. dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tam giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cẩm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh”, Khoản 2 Điều 109 BLTTHS quy định các trường hợp bắt người gồm: bắt người bị giữ trong trường hợp khan cấp; bắt người phạm tội quả tang; bat người. đang bị truy nã; bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người bị yêu cầu dẫn độ. ‘Theo các quy định tại khoản 1 và 2 Điều 109 BLTTHS đã nói trên, biện pháp ngăn chặn “bắt” là một trong 8 biện pháp ngăn chặn độc lập áp dụng trong.

16 tụng hình sự. Biện pháp “bit” bao gồm 5 trường hợp bắt người cy thé, trong. 6 bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là một trường hợp “bất” mới được ung vào BLTTHS năm 2015. Cũng theo quy định tại điều này, giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người bị giữ trong trường hợp khan cấp là hai trường hợp khác nhau.

Giữ người trong trường hợp khả cấp là một biện pháp hợp bắt cụ thé của biện pháp ngăn chặn độc lập khác là “bắt”. Đây là hai nội dung lập pháp mà về nguyên tắc cần được quy định độc lập với nhau thì mới có sự phân biệt rõ rằng giữa một biện pháp ngăn chặn độc lập này với một trường hợp cụ thể của một biện pháp ngăn chặn độc lập khác. Tuy nhiên, khi triển khai xây dựng quy định các biện pháp ngăn chặn cụ thé tại chương này thi BLTTHS năm 2015 lại đưa hai nội dung nói trên vào điều chỉnh trong cùng một điều luật mà ngay cá tên gọi của điều luật ấy cũng không bao hàm hết nội dung đã quy định trong đó (Điểu 110. Giữ người trong trường hợp khẩn cáp).

Theo quan điểm của chủng tôi, quy định như vậy là chưathật hợp lý. Trước hết, về kỹ thuật lập pháp là chưa thống nhất với quy định tại Điều 109 Bộ luật này. Cụ thể, như đã nêu ở trên là đoạn 1 Điều 109 BLTTHS năm 2015 quy định giữ người trong trường hợp khẩn cấp là một biện pháp ngăn chặn độc lập bên cạnh các biện pháp ngăn chặn khác như bắt, tạm giữ, tạm giam. đoạn 2 Điều 109 BLTTHS năm 2015 quy định có 5 trường hợp bắt người gềm: bắt người bị giữ trong trường, hợp khẩn cắp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bi can, bị cáo để tạm giam, bất người theo yêu cầu din độ.

Tuy nhiên, Di no 2 BLTTHS có tên là "giữ người trong trường hợp khẩn cấp” lại quy định gộp chung biện pháp ngăn chặn này với trường hợp “bit người bị hop khẩn cấp” là một trong các trường hợp cụ thé của biện pháp ngăn chặn độc. lập là “bắt người” thì rõ ràng nội dung quy định của điều luật đã vượt ra ngoài phạm vi tên gọi của điều luật và như vậy là chưa thật hợp lý và không có sự thống nhất với quy định tại Điều 109 BLTTHS. 'Bên cạnh đó cũng xuất hiện sự chưa thống nhất trong quy định giữa Điều 110 với Điều 117 BLTTHS năm 2015 về biện pháp tạm giữ, cụ thể là: khoản 2 Điều 117 BLTTHS năm 2015 quy định “Những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người quy định tại khoản 2 Điều 110 của này có quyền ra quyết định tạm pitt”. Quy định về thắm quyền ra.quyết: định tạm giữ tại Điều 117 BLTTHS nói trên rõ rằng là có điểm không thống nhất với quy định tại Điều 110 của Bộ luật nay.

Bởi vì, ngoài những người có thẩm quyển ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp quy định tại điểm a và b khoản 2 Điều 110 là những người thuộc cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động. điều tra thì những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này. còn bao gồm cả “người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tau bay, tàu biển đãrời khỏi sân bay, bến cảng”, Đây là những người không thuộc điện người được giao nhiệm ‘vu tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS cũng như Luật 16 chức cơ quan điều tra bình sự năm 2015. Bên cạnh đó, theo quy định tại đoạn 2 khoản 4 Điều 110 BLTTHS 'Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm ¢ khoản 2 này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về.

Trong thời hạn 12 giờ kế từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra {gah bất người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho người đó, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm. sắt cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn”, Điều luật không quy định cho những người quy định tại điểm e khoản 2 Điều 110 nói trên có những quyền của người được quy định tại các điểm a và b khoản 2 điều này sau khi ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cắp". “ Nhâng người quy định ti các điểm ava b Khoản 2 Bidu 110 bao gm: Thưởng Pho Th eng Cơ han <u ác cọ; Tủ trường don vị độc lập cập rang đoàn và trơng đương, Dn rường Đôn biên phòng, Chỉ 3 không có các quyền: lấy lời khai người bị giữ, ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt tự do cho người đó?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Biện Pháp Cưỡng Chế Theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015: Kỷ Yếu Hội Thảo Khoa Học Cấp Khoa là tài liệu chuyên sâu phân tích các biện pháp cưỡng chế được quy định trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015, đồng thời đưa ra những nhận định khoa học từ hội thảo cấp khoa. Tài liệu này giúp độc giả hiểu rõ hơn về cơ sở pháp lý, quy trình áp dụng, và thực tiễn thi hành các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu, luật sư, và sinh viên luật muốn nắm vững kiến thức chuyên môn.

Để mở rộng hiểu biết về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam và thực tiễn tại thị xã sơn tây thành phố hà nội, nghiên cứu sâu về việc áp dụng biện pháp tạm giam. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân từ thực tiễn tỉnh lạng sơn cung cấp góc nhìn thực tiễn về quy trình giải quyết vụ án hình sự. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học thủ tục xét xử vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi là tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về thủ tục đặc biệt áp dụng cho đối tượng này.