Chương 1 Trong chương đầu tiên của đề tài, nhóm tác giả sẽ nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về thủ tục truy cứu TNHS pháp nhân. Dựa trên nền tảng các quy định pháp luật, nhóm tác giả sẽ làm rõ khái niệm cơ bản; chỉ ra những đặc điểm của thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân phạm tội. Thông qua việc phân tích, đối chiếu những tồn đọng xảy ra khi phát sinh vụ án hình sự đối với pháp nhân trong thực tiễn, bài viết đưa ra những cơ sở quy định về tục truy cứu TNHS và ý nghĩa của quy định này. Khái niệm, đặc điểm của pháp nhân 1.
Khái niệm pháp nhân Pháp nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, hình sự, thương mại với những đặc thù về tổ chức hoạt động kinh tế được thể hiện ở sự tách bạch tài sản tạo nên một chủ thể riêng độc lập. Điều này góp phần tạo cho các chủ thể kinh doanh sự năng động, đa dạng, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam chưa có một định nghĩa chung về pháp nhân mà chỉ dừng lại ở việc quy định các dấu hiệu của pháp nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, đó là pháp nhân tồn tại không phụ thuộc vào sự thay đổi các thành viên trong pháp nhân đó. Theo quan niệm chung của các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, chủ thể của pháp luật là pháp nhân có những thuộc tính đặc biệt, được Nhà nước trao cho năng lực chủ thể.
Theo từ điển Luật học, “Pháp nhân là tổ chức hội tụ đủ các điều kiện cần và điều kiện đủ do pháp luật quy định,… là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự; khác với thể nhân (cá nhân) là một con người, một cá nhân riêng biệt; pháp nhân là một tổ chức nhưng không phải là một tổ chức bất kỳ mà chỉ những tổ chức có đủ điều kiện do pháp luật quy định”.1 Theo đó, pháp nhân là một tổ chức, nhưng không phải tổ chức nào cũng là pháp nhân. Chỉ những tổ chức có đủ điều kiện luật định, thì mới có thể trở thành pháp nhân, có tư cách chủ thể độc lập để tham gia vào các quan hệ pháp luật, tức là có địa vị pháp lý gần giống như cá nhân con người và bình đẳng với con người. TS Ngô Huy Cương cũng đã lập luận về pháp nhân, cụ thể như sau: “Các tổ chức của con người xét từ phương diện nào đó là các phương tiện giúp con người thỏa mãn các nhu cầu sống. Để duy trì và phát triển các tổ chức đó trong mối quan hệ tương 1 Viện Khoa học pháp lý – Bộ tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB.
Từ điển bách khoa và NXB. Tư pháp liên kết xuất bản, tr. 2 Trường Đại học Luật TP. HCM (2020), Giáo trình Những quy định chung về Luật Dân sự, Tái bản lần 1, có sửa đổi, bổ sung, NXB Hồng Đức – Hội Luật Gia Việt Nam, tr.
8 thuộc, con người thông qua pháp luật ban tặng cho một số loại tổ chức nhất định một đời sống pháp lý thích ứng, có nghĩa là biến chứng thành chủ thể của một số quyền thích ứng, và, trong mối quan hệ tương thuộc, gánh vác những nghĩa vụ nhất định. Cách thức này đã được mở rộng tới lợi ích (không chỉ là các tổ chức), có nghĩa là một hoặc một tập hợp lợi ích nào đó cũng được xem là chủ thể của quyền. Chủ thể của quyền có nghĩa là chủ thể của pháp luật bởi pháp luật bao gồm các qui tắc xử sự bắt buộc chỉ ra quyền và nghĩa vụ thích ứng của các bên tham gia các quan hệ (nói một cách đơn giản). Phương thức ban tặng này đã mô phỏng đời sống pháp lý của thể nhân gán cho chủ thể khác (tổ chức hoặc lợi ích) để xem nó cũng là người (dưới giác độ pháp lý), nhưng đồng thời gán cho nó một tính từ để phân biệt với thể nhân (con người tự nhiên có thể chất – chủ nhân đích thực của thế giới) và gọi nó là pháp nhân (con người pháp định)”.3 Theo lập luận này, PGS.
TS Ngô Huy Cương cho rằng pháp nhân không có nghĩa hoàn toàn là một tổ chức (một tập hợp người) hoặc không có nghĩa là bắt buộc phải có thành viên. Pháp nhân theo đó có thể là một tổ chức hoặc có thể là một tập hợp lợi ích nào đó đã được nhân cách hóa. Dưới góc nhìn của pháp luật, khái niệm pháp nhân đã được quy định tại BLDS Việt Nam năm 2015, Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN, BLDS Liên bang Nga. Theo quy định của pháp luật dân sự, pháp nhân có thể được hiểu thông qua các dấu hiệu mà quy phạm pháp luật thể hiện.
Những dấu hiệu của một tổ chức có tư cách pháp nhân được xác định bởi các nhân tố như: sự tồn tại độc lập của pháp nhân mà không phụ thuộc vào các thành viên trong pháp nhân đó; sở hữu tài sản riêng, độc lập với tài sản của các thành viên; có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và thực hiện những hành vi pháp lý nhân danh mình; có quyền tham gia hoạt động tố tụng bằng địa vị pháp lý của mình; chịu trách nhiệm độc lập về tài sản.4 Theo đó BLDS Việt Nam 2015 quy định:“Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:5 i) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; ii) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; iii) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; iv) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập”. 3 Ngô Huy Cương (2015), Bình luận các quy định về pháp nhân trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số chuyên đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự), NXB. Tư pháp, Hà Nội, tr. 4 Hoàng Thị Tuệ Phương (2006), Trách nhiệm hình sự của pháp nhân, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP.
9 BLDS 2015 cũng chia pháp nhân thành hai loại chính: Pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại. Theo đó, pháp nhân thương mại là pháp nhân hoạt động vì mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận. Việc thành lập, hoạt động, tổ chức lại và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của các luật có liên quan.6 Như vậy, có thể hiểu pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.
Cụ thể, “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.”7 Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.8 Các tổ chức kinh tế khác trong trường hợp này được hiểu là các tổ chức không phải là doanh nghiệp, cũng có hoạt động kinh tế nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Đồng thời, để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận thì doanh nghiệp có các quyền như: Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm; Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh. Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân hoạt động không vì mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và không phân chia lợi nhuận cho các thành viên. Bởi loại hình pháp nhân này không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên.
Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác.9 Việc thành lập, hoạt động, tổ chức lại và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được thực hiện theo quy định của các luật có liên quan. Như vậy, nhìn chung, điểm khác biệt giữa pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại đó là: Thứ nhất, về mục đích thành lập. Đối với pháp nhân thương mại thì khi thành lập mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên, còn đối với pháp nhân phi thương mại thì không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận bởi vì mục đích không phải kinh doanh mà mục đích chính là mang lợi ích cho một nhóm đối tượng nhất định. Trong trường hợp, pháp nhân phi thương mại tạo ra được lợi nhuận thì 6 Điều 75 BLDS 2015.
7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung 2022). 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung 2022). 10 cũng không được phân chia cho các thành viên mà dùng lợi nhuận đó để hỗ trợ các nhóm đối tượng như trại trẻ mồ côi, một số tổ chức hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn… Thứ hai, về thành viên của pháp nhân. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác; còn đối với pháp nhân phi thương mại thì bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác.
Thứ ba, về Luật áp dụng. Theo đó, đối với pháp nhân thương mại, thì Luật áp dụng sẽ là Bộ luật Dân sự, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan; Còn đối với pháp nhân phi thương mại thì Luật áp dụng sẽ là Bộ luật Dân sự, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.