Thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân: Nghiên cứu so sánh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tìm hiểu thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân tại Việt Nam. Nghiên cứu so sánh và kinh nghiệm thực tiễn, giúp hoàn thiện pháp luật.

Chuyên ngành

Luật Hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Công trình dự thi nghiên cứu khoa học

2022-2023

95
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ PHÁP NHÂN

1.1. Khái niệm cơ bản

1.2. Khái niệm pháp nhân

1.3. Đặc điểm của pháp nhân

1.4. Khái quát quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân phạm tội

1.5. Khái niệm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân phạm tội

1.6. Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân phạm tội

1.7. Ý nghĩa của các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân phạm tội

1.8. Khái quát quy định về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

1.9. Lịch sử hình thành và phát triển chế định thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

1.10. Khái niệm thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

1.11. Việc tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân

1.12. Cơ sở của việc quy định thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

1.13. Ý nghĩa của việc quy định thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

1.14. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ PHÁP NHÂN TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA

2.1. Cơ sở cho việc chọn pháp luật Cộng Hòa Pháp và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để nghiên cứu

2.2. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

2.3. Pháp luật Cộng hòa Pháp

2.4. Tổng quan về pháp luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp

2.5. Thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

2.6. Kết luận và gợi mở cho Việt Nam

2.7. Pháp luật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

2.8. Tổng quan về Pháp luật Tố tụng hình sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

2.9. Pháp luật về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với đơn vị phạm tội theo BLTTHS năm 1979 (sửa đổi, bổ sung 1996, 2013, 2018)

2.10. Kết luận và gợi mở cho Việt Nam

2.11. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ PHÁP NHÂN, THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

3.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

3.2. Giai đoạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can pháp nhân phạm tội

3.3. Giai đoạn điều tra đối với pháp nhân phạm tội

3.4. Giai đoạn truy tố đối với bị can là pháp nhân

3.5. Giai đoạn xét xử vụ án đối với bị cáo là pháp nhân

3.6. Thực trạng pháp luật về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

3.7. Tính đồng bộ giữa nội dung so với các quy định khác của pháp luật trong việc quy định chế định thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

3.8. Vấn đề quy định người đại diện của pháp nhân thương mại tham gia tố tụng

3.9. Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân bị buộc tội

3.10. Những vấn đề cần phải chứng minh và nghĩa vụ khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội

3.11. Thẩm quyền và thủ tục xét xử đối với pháp nhân

3.12. Thực tiễn giải quyết vụ án hình sự liên quan đến pháp nhân thương mại phạm tội

3.13. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân

3.13.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

3.13.2. Kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

3.14. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thủ Tục Truy Cứu TNHS Pháp Nhân 55 Ký Tự

Chương này sẽ đi sâu vào các vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân. Nghiên cứu này làm rõ khái niệm, đặc điểm, điều kiện truy cứu TNHS, và ý nghĩa của các quy định liên quan đến pháp nhân phạm tội. Bài viết cũng sẽ trình bày lịch sử hình thành và phát triển của chế định này, làm cơ sở cho các phân tích so sánh và đề xuất giải pháp ở các chương sau. Việc hiểu rõ các vấn đề lý luận là nền tảng quan trọng để đánh giá thực trạng và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng sẽ được xem xét kỹ lưỡng để xác định các bất cập và đề xuất giải pháp khắc phục.

1.1. Định Nghĩa Pháp Nhân và Đặc Điểm Pháp Lý 48 Ký Tự

Pháp nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, hình sự, thương mại, có đặc thù về tổ chức và hoạt động kinh tế. Đặc điểm nổi bật là sự tách bạch tài sản, tạo nên một chủ thể riêng biệt, độc lập. Ở Việt Nam, chưa có định nghĩa chung về pháp nhân, mà chỉ có quy định về các dấu hiệu. Pháp nhân tồn tại không phụ thuộc vào sự thay đổi các thành viên. Pháp nhân có những thuộc tính đặc biệt, được Nhà nước trao cho năng lực chủ thể, như được trích dẫn từ từ điển Luật học: "Pháp nhân là tổ chức hội tụ đủ các điều kiện cần và điều kiện đủ do pháp luật quy định,… là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự".

1.2. Ý Nghĩa Quy Định Trách Nhiệm Hình Sự Pháp Nhân 57 Ký Tự

Việc quy định trách nhiệm hình sự pháp nhân có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các quan hệ xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển. Các quy định của Bộ luật Hình sự cần thích ứng kịp thời với sự phát triển của các quan hệ xã hội. Điều này đảm bảo rằng pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm cho các hành vi phạm tội do mình gây ra, góp phần tạo sự công bằng và răn đe trong xã hội. Các quy định về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân cần được hoàn thiện, quy định chặt chẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân.

II. Vấn Đề Bất Cập Trong Thủ Tục TNHS Pháp Nhân 58 Ký Tự

Chế định thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân còn nhiều bất cập trong quy định và lúng túng trong thực tiễn áp dụng. Việc truy cứu TNHS ảnh hưởng trực tiếp đến quyền công dân, là quyền Hiến định. Nếu thủ tục tố tụng, truy cứu TNHS đối với pháp nhân không được hoàn thiện, quy định chặt chẽ thì có khả năng đặt các quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân bị truy cứu TNHS trước nguy cơ bị xâm phạm. Cần lưu ý là tố tụng hình sự là nơi mà quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng được bảo vệ.

2.1. Tính Đồng Bộ Giữa BLHS và BLTTHS Về Pháp Nhân 55 Ký Tự

Trong mối tương quan giữa pháp luật hình thức và pháp luật nội dung, BLTTHS đóng vai trò là luật hình thức, cụ thể hóa các quy định của BLHS. BLTTHS có nhiệm vụ công cụ nhằm mục đích triển khai, thực hiện, cụ thể hóa các quy định của BLHS thông qua các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành hoạt động tố tụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự các tội phạm được quy định trong BLHS. Để đáp ứng vai trò đó, BLTTHS phải có tính đồng bộ nhất định với quy định của BLHS về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.

2.2. Thiếu Nghiên Cứu Chuyên Sâu Về TNHS Pháp Nhân 58 Ký Tự

Hiện nay, số lượng công trình nghiên cứu ở lĩnh vực này cực kỳ khiêm tốn. Các nguồn tài liệu từ thư viện, sách báo đến mạng internet hầu như không tìm thấy bất kỳ công trình nào chuyên sâu và có tính hệ thống. Do đó, để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của pháp nhân, cũng như đảm bảo việc thực thi pháp luật, đòi hỏi cần có những công trình nghiên cứu về chế định thủ tục truy trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân. Điều này sẽ góp phần hoàn thiện và áp dụng một cách có hiệu quả quy định về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân.

III. Cách Pháp Luật Trung Quốc Xử Lý Pháp Nhân Phạm Tội 59 Ký Tự

Trung Quốc có kinh nghiệm đáng chú ý trong việc xử lý pháp nhân phạm tội. Pháp luật Trung Quốc quy định rõ ràng về các loại tội phạm mà pháp nhân có thể thực hiện, cũng như các hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại. Nghiên cứu pháp luật Trung Quốc giúp Việt Nam có thêm cơ sở để hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình. Kinh nghiệm của Trung Quốc về cơ chế kiểm soát pháp nhân để phòng ngừa tội phạm cũng là một bài học quý giá. Cần nghiên cứu sâu về thủ tục tố tụng đối với pháp nhân phạm tội theo pháp luật Trung Quốc để tìm ra những điểm phù hợp với điều kiện Việt Nam.

3.1. Tổng Quan Về Tố Tụng Hình Sự Của Trung Quốc 54 Ký Tự

Pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc có những đặc điểm riêng biệt, phản ánh hệ thống chính trị và pháp luật của nước này. Các quy định về thủ tục điều tra, truy tố, xét xử đối với đơn vị phạm tội được quy định chi tiết trong BLTTHS.Việc nghiên cứu luật TTHS của Trung Quốc, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.

3.2. Gợi Mở Cho Việt Nam Từ Kinh Nghiệm Trung Quốc 54 Ký Tự

Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, Việt Nam có thể rút ra nhiều bài học trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm hình sự pháp nhân. Việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt từ các nước có nhiều điểm tương đồng về hệ thống pháp luật, là rất quan trọng.Cần nghiên cứu sâu về việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân phạm tội theo pháp luật Trung Quốc. Cần nghiên cứu rõ về việc quy định người đại diện của pháp nhân thương mại tham gia tố tụng.

IV. Pháp Luật Pháp Thủ Tục Truy Cứu TNHS Pháp Nhân 59 Ký Tự

Pháp luật Pháp có lịch sử lâu đời và phát triển trong lĩnh vực trách nhiệm hình sự pháp nhân. Việc nghiên cứu pháp luật Pháp giúp Việt Nam có cái nhìn toàn diện về các mô hình truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân. Pháp luật Pháp cũng có những quy định chặt chẽ về việc bồi thường thiệt hại do pháp nhân gây ra. Kinh nghiệm của Pháp trong việc áp dụng các chế tài hình sự đối với pháp nhân là một nguồn tham khảo quý giá. Cần nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân ở Việt Nam.

4.1. Tổng Quan Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự Cộng Hòa Pháp 57 Ký Tự

Pháp luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp có nhiều điểm tiến bộ, đặc biệt trong việc bảo vệ quyền của người bị buộc tội. Các quy định về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân được xây dựng dựa trên các nguyên tắc pháp luật cơ bản.Việc áp dụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân trong thực tiễn tại Pháp có nhiều bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

4.2. Bài Học Cho Việt Nam Từ Pháp Luật Pháp 49 Ký Tự

Từ pháp luật Pháp, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm về việc xây dựng các quy định rõ ràng, minh bạch về trách nhiệm hình sự pháp nhân. Việc bảo đảm quyền của pháp nhân trong quá trình tố tụng là rất quan trọng. Cần nghiên cứu về thẩm quyền và thủ tục xét xử đối với pháp nhân theo pháp luật Pháp. Kinh nghiệm của Pháp về cải cách pháp luật hình sự Việt Nam về pháp nhân.

V. Hoàn Thiện Pháp Luật Việt Nam Về TNHS Pháp Nhân 56 Ký Tự

Để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm hình sự pháp nhân, cần có những nghiên cứu chuyên sâu về các quy định hiện hành. Việc đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật giúp phát hiện ra những bất cập và đề xuất giải pháp khắc phục. Cần có những kiến nghị cụ thể để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.Việc nghiên cứu bản án về truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân sẽ cung cấp thông tin thực tiễn quan trọng. Kinh nghiệm của các nước tiên tiến giúp Việt Nam đi đúng hướng trong việc xây dựng pháp luật.

5.1. Kiến Nghị Cụ Thể Để Hoàn Thiện Pháp Luật 51 Ký Tự

Các kiến nghị cần tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung các quy định còn thiếu sót, chưa rõ ràng.Việc bảo đảm tính đồng bộ giữa các văn bản pháp luật là rất quan trọng. Các quy định về biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân bị buộc tội cần được quy định chi tiết, cụ thể. Cần làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh và nghĩa vụ khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội.

5.2. Nâng Cao Hiệu Quả Áp Dụng Pháp Luật Về TNHS Pháp Nhân 59 Ký Tự

Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp là rất quan trọng. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến pháp nhân thương mại phạm tội.

VI. Kết Luận Triển Vọng Thủ Tục TNHS Pháp Nhân 52 Ký Tự

Việc hoàn thiện thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn xã hội. Với những nghiên cứu chuyên sâu, những kiến nghị cụ thể, Việt Nam có thể xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Điều này sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu và Đánh Giá Thực Tiễn 58 Ký Tự

Nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật. Các nghiên cứu cần tập trung vào việc phân tích các quy định hiện hành, so sánh với kinh nghiệm quốc tế, và đánh giá tác động của các quy định này đối với xã hội.

6.2. Hướng Tới Một Hệ Thống Pháp Luật Hoàn Thiện Về Pháp Nhân 59 Ký Tự

Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện về pháp nhân, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống pháp luật này cần bảo đảm sự công bằng, minh bạch, và hiệu quả trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của pháp nhân thương mại.

19/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Trong chương đầu tiên của đề tài, nhóm tác giả sẽ nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về thủ tục truy cứu TNHS pháp nhân. Dựa trên nền tảng các quy định pháp luật, nhóm tác giả sẽ làm rõ khái niệm cơ bản; chỉ ra những đặc điểm của thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân phạm tội. Thông qua việc phân tích, đối chiếu những tồn đọng xảy ra khi phát sinh vụ án hình sự đối với pháp nhân trong thực tiễn, bài viết đưa ra những cơ sở quy định về tục truy cứu TNHS và ý nghĩa của quy định này. Khái niệm, đặc điểm của pháp nhân 1.

Khái niệm pháp nhân Pháp nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, hình sự, thương mại với những đặc thù về tổ chức hoạt động kinh tế được thể hiện ở sự tách bạch tài sản tạo nên một chủ thể riêng độc lập. Điều này góp phần tạo cho các chủ thể kinh doanh sự năng động, đa dạng, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam chưa có một định nghĩa chung về pháp nhân mà chỉ dừng lại ở việc quy định các dấu hiệu của pháp nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, đó là pháp nhân tồn tại không phụ thuộc vào sự thay đổi các thành viên trong pháp nhân đó. Theo quan niệm chung của các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, chủ thể của pháp luật là pháp nhân có những thuộc tính đặc biệt, được Nhà nước trao cho năng lực chủ thể.

Theo từ điển Luật học, “Pháp nhân là tổ chức hội tụ đủ các điều kiện cần và điều kiện đủ do pháp luật quy định,… là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự; khác với thể nhân (cá nhân) là một con người, một cá nhân riêng biệt; pháp nhân là một tổ chức nhưng không phải là một tổ chức bất kỳ mà chỉ những tổ chức có đủ điều kiện do pháp luật quy định”.1 Theo đó, pháp nhân là một tổ chức, nhưng không phải tổ chức nào cũng là pháp nhân. Chỉ những tổ chức có đủ điều kiện luật định, thì mới có thể trở thành pháp nhân, có tư cách chủ thể độc lập để tham gia vào các quan hệ pháp luật, tức là có địa vị pháp lý gần giống như cá nhân con người và bình đẳng với con người. TS Ngô Huy Cương cũng đã lập luận về pháp nhân, cụ thể như sau: “Các tổ chức của con người xét từ phương diện nào đó là các phương tiện giúp con người thỏa mãn các nhu cầu sống. Để duy trì và phát triển các tổ chức đó trong mối quan hệ tương 1 Viện Khoa học pháp lý – Bộ tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB.

Từ điển bách khoa và NXB. Tư pháp liên kết xuất bản, tr. 2 Trường Đại học Luật TP. HCM (2020), Giáo trình Những quy định chung về Luật Dân sự, Tái bản lần 1, có sửa đổi, bổ sung, NXB Hồng Đức – Hội Luật Gia Việt Nam, tr.

8 thuộc, con người thông qua pháp luật ban tặng cho một số loại tổ chức nhất định một đời sống pháp lý thích ứng, có nghĩa là biến chứng thành chủ thể của một số quyền thích ứng, và, trong mối quan hệ tương thuộc, gánh vác những nghĩa vụ nhất định. Cách thức này đã được mở rộng tới lợi ích (không chỉ là các tổ chức), có nghĩa là một hoặc một tập hợp lợi ích nào đó cũng được xem là chủ thể của quyền. Chủ thể của quyền có nghĩa là chủ thể của pháp luật bởi pháp luật bao gồm các qui tắc xử sự bắt buộc chỉ ra quyền và nghĩa vụ thích ứng của các bên tham gia các quan hệ (nói một cách đơn giản). Phương thức ban tặng này đã mô phỏng đời sống pháp lý của thể nhân gán cho chủ thể khác (tổ chức hoặc lợi ích) để xem nó cũng là người (dưới giác độ pháp lý), nhưng đồng thời gán cho nó một tính từ để phân biệt với thể nhân (con người tự nhiên có thể chất – chủ nhân đích thực của thế giới) và gọi nó là pháp nhân (con người pháp định)”.3 Theo lập luận này, PGS.

TS Ngô Huy Cương cho rằng pháp nhân không có nghĩa hoàn toàn là một tổ chức (một tập hợp người) hoặc không có nghĩa là bắt buộc phải có thành viên. Pháp nhân theo đó có thể là một tổ chức hoặc có thể là một tập hợp lợi ích nào đó đã được nhân cách hóa. Dưới góc nhìn của pháp luật, khái niệm pháp nhân đã được quy định tại BLDS Việt Nam năm 2015, Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN, BLDS Liên bang Nga. Theo quy định của pháp luật dân sự, pháp nhân có thể được hiểu thông qua các dấu hiệu mà quy phạm pháp luật thể hiện.

Những dấu hiệu của một tổ chức có tư cách pháp nhân được xác định bởi các nhân tố như: sự tồn tại độc lập của pháp nhân mà không phụ thuộc vào các thành viên trong pháp nhân đó; sở hữu tài sản riêng, độc lập với tài sản của các thành viên; có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và thực hiện những hành vi pháp lý nhân danh mình; có quyền tham gia hoạt động tố tụng bằng địa vị pháp lý của mình; chịu trách nhiệm độc lập về tài sản.4 Theo đó BLDS Việt Nam 2015 quy định:“Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:5 i) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; ii) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; iii) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; iv) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập”. 3 Ngô Huy Cương (2015), Bình luận các quy định về pháp nhân trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số chuyên đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự), NXB. Tư pháp, Hà Nội, tr. 4 Hoàng Thị Tuệ Phương (2006), Trách nhiệm hình sự của pháp nhân, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP.

9 BLDS 2015 cũng chia pháp nhân thành hai loại chính: Pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại. Theo đó, pháp nhân thương mại là pháp nhân hoạt động vì mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận. Việc thành lập, hoạt động, tổ chức lại và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của các luật có liên quan.6 Như vậy, có thể hiểu pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.

Cụ thể, “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.”7 Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.8 Các tổ chức kinh tế khác trong trường hợp này được hiểu là các tổ chức không phải là doanh nghiệp, cũng có hoạt động kinh tế nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Đồng thời, để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận thì doanh nghiệp có các quyền như: Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm; Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh. Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân hoạt động không vì mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và không phân chia lợi nhuận cho các thành viên. Bởi loại hình pháp nhân này không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên.

Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác.9 Việc thành lập, hoạt động, tổ chức lại và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được thực hiện theo quy định của các luật có liên quan. Như vậy, nhìn chung, điểm khác biệt giữa pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại đó là: Thứ nhất, về mục đích thành lập. Đối với pháp nhân thương mại thì khi thành lập mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên, còn đối với pháp nhân phi thương mại thì không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận bởi vì mục đích không phải kinh doanh mà mục đích chính là mang lợi ích cho một nhóm đối tượng nhất định. Trong trường hợp, pháp nhân phi thương mại tạo ra được lợi nhuận thì 6 Điều 75 BLDS 2015.

7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung 2022). 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung 2022). 10 cũng không được phân chia cho các thành viên mà dùng lợi nhuận đó để hỗ trợ các nhóm đối tượng như trại trẻ mồ côi, một số tổ chức hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn… Thứ hai, về thành viên của pháp nhân. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác; còn đối với pháp nhân phi thương mại thì bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác.

Thứ ba, về Luật áp dụng. Theo đó, đối với pháp nhân thương mại, thì Luật áp dụng sẽ là Bộ luật Dân sự, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan; Còn đối với pháp nhân phi thương mại thì Luật áp dụng sẽ là Bộ luật Dân sự, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Truy Cứu Trách Nhiệm Hình Sự Pháp Nhân: Nghiên Cứu So Sánh và Kinh Nghiệm cho Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong bối cảnh pháp luật Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các quy định hiện hành mà còn so sánh với các hệ thống pháp luật khác, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ hơn về trách nhiệm pháp lý của các tổ chức, giúp họ áp dụng hiệu quả trong thực tiễn.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển cho hành chính khi chuyến bay bị chậm bị hủy theo pháp luật việt nam, nơi bàn về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực vận chuyển. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật vật liệu tổng hợp tấm nano graphene bằng phương pháp dựa trên lò vi sóng cũng có thể cung cấp những hiểu biết về ứng dụng công nghệ trong pháp lý. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp trẻ em mồ côi tại làng trẻ em sos hà nội, một tài liệu liên quan đến trách nhiệm xã hội và pháp lý trong cộng đồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh pháp lý và xã hội hiện nay.