Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò thủ tục phối hợp cưỡng chế giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong thi hành án dân sự 1. Khái niệm, phân loại thủ tục phối hợp trong cưỡng chế giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án dân sự Khái niệm thi hành án dân sự Mặc dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực THADS nhưng vẫn chưa có sự thống nhất quan điểm về khái niệm THADS. Xoay quanh vấn đề này xin nêu ra một số quan điểm như sau: Quan điểm thứ nhất: cho rằng, THADS là một giai đoạn của quá trình tố tụng, diễn ra ngay sau giai đoạn xét xử, được pháp luật tố tụng quy định.
THADS là hoạt động bảo vệ pháp luật, phù hợp với hoạt động của tố tụng tư pháp, với lý do cơ bản là có xét xử thì phải có thi hành án, thi hành án dựa trên cơ sở và kết quả của công tác xét xử. “Xét xử và thi hành án là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đương sự”;[2] Không có hoạt động thi hành án thì mọi phán quyết của Tòa án cũng như các các quyết định khác chỉ là trên văn bản giấy mà thôi. Hoạt động thi hành án gắn liền với quá trình xét xử và chịu sự chi phối của quá trình xét xử. Cho nên thi hành án không thể tách ra khỏi quá trình tố tụng mà phải coi nó là giai đoạn tố tụng.
Quan điểm thứ hai cho rằng: THADS là hoạt động tư pháp vì THADS bảo đảm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác theo quy định pháp luật. Quan điểm này xuất phát từ nguyên lý “gốc” của hoạt động thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác theo qui định của pháp luật và khi thực hiện nhiệm vụ cơ quan Thi hành án chỉ tuân theo pháp luật và thi hành theo đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án. Hoạt động hành chính 8 trong lĩnh vực thi hành án chẳng qua cũng chỉ để đảm bảo phục vụ cho chức năng chính của cơ quan thi hành án là tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật. 10] Quan điểm thứ ba cho rằng, THADS là hoạt động hành chính - tư pháp, THADS không thể là giai đoạn của tố tụng bởi vì THADS có mục đích khác với bản chất và mục đích của tố tụng, mục đích của tố tụng là xác định các chứng cứ tìm ra sự thật của các vụ việc đã diễn ra để trên cơ sở đó đưa ra cách giải quyết theo đúng các quy định của pháp luật.
Với mục đích đó, toàn bộ quá trình tố tụng diễn ra theo một quy trình hết sức chặt chẽ và phải bảo đảm các nguyên tắc như bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng. và khi đã có phán quyết của Tòa án thì quá trình tố tụng kết thúc. Trong khi đó, THADS là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án, và quyết định khác do luật định đã có hiệu lực thi hành. Vì vậy, có thể nói tố tụng là quá trình đi tìm chân lý, còn THADS là quá trình thực thi chân lý bằng công lý.
Quá trình này có thể do chính các chủ thể tự giác thi hành án hoặc do cơ quan có thẩm quyền buộc các chủ thể đó phải thi hành án theo đúng nội dung bản án, quyết định. Các quan điểm trên mỗi quan điểm đều có cơ sở khoa học riêng để lý giải. Nhưng theo quan điểm cá nhân tôi đồng ý với quan điểm cho rằng THADS là hoạt động hành chính-tư pháp, vì các lẽ sau: Thứ nhất, đây không phải là hoạt động tố tụng, không phải là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng, không phải là giai đoạn tố tụng và không chỉ chịu sự điều chỉ của pháp luật tố tụng mà chịu sự điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về THADS; Thứ hai, xét về cơ cấu tổ chức hiện nay của các cơ quan THADS được tổ chức theo ngành dọc trực thuộc Bộ Tư pháp do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý, cơ quan THADS ở Trung ương là Tổng cục THADS trực thuộc Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác THADS và thi hành án hành chính trong phạm vi cả nước; thực hiện quản lý chuyên 9 ngành về THADS và thi hành án hành chính theo quy định của pháp luật, cơ quan THADS ở địa phương bao gồm Cục THADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các Chi cục THADS huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh với nhiệm vụ chính là tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác theo qui định pháp luật, trong đó có các bản án, quyết định hành chính theo trình tự, thủ tục hành chính; Thứ ba, Theo Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, xác định các cơ quan tư pháp bao gồm: Tòa án nhân dân; Viện kiểm sát nhân dân; cơ quan điều tra; cơ quan thi hành án. Hơn nữa trong thực tiễn hoạt động của cơ quan THADS càng thấy rõ hơn yêu cầu khách quan của việc bảo đảm sự gắn kết giữa hoạt động xét xử và hoạt động thi hành án, yêu cầu tăng cường sự phối hợp cũng như vai trò trách nhiệm của Tòa án, Công an, Viện kiểm sát và Ủy ban nhân dân các cấp trong hoạt động THADS để các bản án, quyết định được thi hành có hiệu quả.
Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu THADS là hoạt động hành chính - tư pháp do cơ quan thi hành án dân sự mà đại diện là Chấp hành viên trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định theo trình tự, thủ tục được pháp luật qui định. Khái niệm thủ tục phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án dân sự Cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS là các cơ quan, tổ chức có liên quan đến hoạt động THADS, phối hợp, hỗ trợ cơ quan THADS tổ chức thi hành các bản án, quyết định theo qui định pháp luật, gồm cơ quan TAND, VKSND, CAND, chính quyền địa phương, cơ quan quản lý tài sản đăng ký bảo đảm, cơ quan tài chính, ngân hàng và các tổ chức, đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh,. Trong Từ điển tiếng Việt phổ thông “phối hợp” được hiểu là bố trí cùng nhau làm theo một kế hoạch chung để đạt được mục đích chung [40]. Phối hợp có nghĩa là hai hay nhiều người cùng hành động trong một kế hoạch và sự hành động chung đó cùng để tiến tới một mục đích chung.
10 Xét từ khía cạnh quản lý nhà nước phối hợp là một phương thức, một hình thức, một quy trình kết hợp hoạt động của các cơ quan, tổ chức lại với nhau để bảo đảm cho các cơ quan tổ chức này thực hiện được đầy đủ, hiệu quả các chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ được giao nhằm đạt được các lợi ích chung. Mục tiêu cuối cùng của phối hợp là tạo ra sự thống nhất, đồng thuận đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong quản lý. Nói khác đi phối hợp là phương thức thực hiện các chức năng, quyền hạn của chủ thể trong quản lý nhà nước. “Thủ tục” được hiểu là những quy định, quy ước về trình tự cách thức tiến hành để làm một việc gì đó.
Hoạt động THADS không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân, tài sản của đương sự mà còn ảnh hưởng và có liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức; liên quan đến việc quản lý con người, quản lý tài sản của người được thi hành án, người phải thi hành án, vì vậy trong quá trình THADS luôn đòi hỏi sự phối hợp, sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức hữu quan. Nếu không có sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức hữu quan thì cơ quan THADS không thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, bản án, quyết định của Tòa sẽ không được thi hành hoặc chưa được thi hành, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, pháp luật không được tôn trọng, trật tự kỷ cương không được đảm bảo và sẽ ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân vào các cơ quan nhà nước vào pháp luật. Từ sự phân tích nêu trên có thể hiểu thủ tục phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong cưỡng chế thi hành án dân sự là cách thức, phương thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ chung theo quy định của pháp luật. Trong đó, Cơ quan thi hành án dân sự chủ động liên hệ, đề nghị, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan hỗ trợ cơ quan thi hành án dân sự trong việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo trình tự, thủ tục nhất định, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được thi hành.
Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự Thi hành án dân sự là quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của các 11 bên đã được bản án, quyết định của Tòa án ghi nhận. Trong thi hành án dân sự, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thỏa thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án. Tự nguyện thi hành án dân sự đã trở thành như một nguyên tắc, biện pháp quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự. Khi người phải thi hành án được Chấp hành viên giải thích, thuyết phục tự nguyện thi hành án những vẫn tìm mọi cách trì hoãn, trốn tránh để không tự nguyện thi hành, thì buộc cơ quan thi hành án phải tổ chức cưỡng chế thi hành.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 - Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự.