Chương 1. Khái quát chung về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự Chương 2. Quy định của pháp luật Tố tụng dân sự hiện hành về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Chương 3. Thực trạng của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự và hướng hoàn thiện.
4 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM TÁI THẨM DÂN SỰ 1. Cơ sở của việc hình thành thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự 1. Cơ sở lý luận của việc hình thành thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân1. Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm.
Trong đó, thủ tục phúc thẩm giúp kịp thời sửa chữa những sai sót trong hoạt động giải quyết và xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, trên cơ sở xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Do vậy, các bản án, quyết định sơ thẩm không có hiệu lực thi hành ngay nếu bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Còn các bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật2. Tuy nhiên, chế độ hai cấp xét xử vẫn không bảo vệ trọn vẹn các quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự vì vẫn còn tồn tại những sai lầm, thiếu sót, hoặc xuất hiện những tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, làm cho các bản án, quyết định đó không còn đảm bảo tính hợp pháp, tính có căn cứ.
Vì thế, Nhà nước đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật để xây dựng những cơ chế mới, khắc phục tình trạng trên. Đó cũng chính là nguyên nhân lý giải tại sao bên cạnh hai cấp xét xử, pháp luật Tố tụng dân sự còn quy định thêm hai thủ tục đặc biệt là thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm. Theo đó, giám đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị do phát hiện có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng khi giải quyết vụ án còn tái thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị do phát hiện những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi giải quyết vụ việc dân sự. Sự hình thành và phát triển của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự dựa trên sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật Tố tụng dân sự nói riêng.
Trong đó, có thể sơ lược quy định pháp luật về giám đốc thẩm, tái thẩm, qua các văn bản sau: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 – văn bản quy phạm pháp luật đặt nền móng đầu tiên cho việc xây dựng và phát triển chế định xem xét lại các bản án, 1 Điều 102, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. 2 Khoản 1, Điều 11, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. 5 quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Vì trước đây, vào giai đoạn năm 1945 đến năm 1959 pháp luật không có điều khoản nào ghi nhận việc xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà chỉ ghi nhận chế độ hai cấp xét xử.
Đoạn 1, Điều 10 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 quy định: “Những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có sai lầm thì được xét lại”. Quy định này chỉ ghi nhận một cách chung chung cơ chế “xét lại” bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, vấn đề tên gọi của cơ chế này cũng như thủ tục tái thẩm vẫn chưa được pháp luật ghi nhận. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981, Điều 21 quy định: “Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền: 1/ Sơ thẩm đồng thời chung thẩm những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp; 2/ Phúc thẩm những bản án và quyết định sơ thẩm của các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương; 3/ Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương”. Với quy định trên, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 chính thức ghi nhận thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Hơn nữa, còn có các văn bản dưới luật được ban hành để hướng dẫn thi hành như Thông tư số 83/TATC ngày 02/8/1982 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thủ tục giám đốc thẩm ở Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư số 01/TTLN ngày 01/2/1982 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn về thủ tục tái thẩm hình sự, dân sự ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự được ban hành năm 1989, chấm dứt tình trạng các quy định về tố tụng dân sự nằm tản mạn trong nhiều văn bản khác nhau như các giai đoạn trước đây. Đánh dấu cho sự phát triển của ngành Luật Tố tụng dân sự trong đó có thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2011) – Bộ luật Tố tụng dân sự đầu tiên của Việt Nam, khắc phục những mặt còn hạn chế, đồng thời hoàn thiện hơn cả về nội dung lẫn hình thức so với Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, bởi trình độ, kỹ thuật lập pháp đã được cải thiện.
Các quy định về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được chú trọng, nội dung chi tiết và rõ ràng hơn. Như vậy, có thể thấy rằng từ rất sớm trong tư duy các nhà lập pháp Việt Nam đã ý thức được vai trò, tầm quan trọng của việc xem xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Và tư duy đó không ngừng được tiếp nối, bổ sung, hoàn thiện, thể hiện rõ nét qua sự phát triển không ngừng của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm qua các giai đoạn, song hành cùng với sự phát triển của ngành luật Tố tụng dân 6 sự. Điều đó, càng khẳng định hùng hồn cho sự cần thiết phải tiếp tục duy trì và phát triển hơn nữa hai thủ tục đặc biệt này.
Bởi suy cho cùng các Thẩm phán cũng là con người, mà con người thì không có khái niệm hoàn mỹ tuyệt đối, cho dù được trang bị kiến thức, trình độ chuyên môn cao, có nhiều năm kinh nghiệm, thường xuyên được tập huấn, nâng cao trình độ nghiệp vụ thì sai lầm, thiếu sót vẫn có thể xảy ra. Vì vậy, cần thiết phải có cơ chế để xem xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà cụ thể là thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng dân sự để bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, góp phần củng cố và bảo vệ trật tự của Nhà nước. Cơ sở thực tiễn của việc hình thành thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự Bản án, quyết định của Tòa án được xét xử công bằng, nghiêm minh, đúng pháp luật không những là mong muốn của các chủ thể quan hệ pháp luật Tố tụng dân sự mà còn là trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, không phải quyết định hay bản án nào của Tòa án cũng được xét xử đúng đắn, mà đôi khi vẫn còn tồn tại những sai lầm nhất định ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án.
Đặc biệt là trong quan hệ pháp luật dân sự nói chung và tố tụng dân sự nói riêng, vấn đề trên không chỉ nhiều về số lượng, đa dạng về nội dung mà nó còn phức tạp về tính chất. Điều đó lý giải nguyên nhân tại sao số lượng án dân sự bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm luôn nhiều hơn so với số lượng án giám đốc thẩm, tái thẩm hành chính và hình sự. Mặt khác, trước đây, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao đã thừa nhận một thực tế rất đáng lo ngại hiện nay là đội ngũ Thẩm phán vẫn còn bất cập về chất lượng vừa thiếu về số lượng. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hơn là số lượng cán bộ chức danh tư pháp trong ngành được đào tạo chính quy, cơ bản còn rất ít.
Còn nhiều Thẩm phán chưa có trình độ đại học3. Với thực trạng đội ngũ Thẩm phán như vậy thì mặc dù vụ việc dân sự đã được xét xử qua hai cấp sơ thẩm, phúc thẩm thì thiếu sót, sai lầm vẫn có thể xảy ra khi án đã có hiệu lực và đang hoặc đã thi hành xong. Nếu tiếp tục duy trì tình trạng trên mà không có cơ chế giải quyết - tức không ghi nhận thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng dân sự thì không đảm bảo được tính dân chủ của một Nhà nước pháp quyền. Những bất cập trên tích tụ dần và khi không được giải quyết sẽ gây ra một làn sóng dư luận mạnh mẽ trong quần chúng nhân dân bởi số lượng vụ việc dân sự còn nhiều sai sót, cần phải được xem xét lại.
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên cho thấy sự cần thiết phải có những quy định của pháp luật để xem xét, sửa chữa, khắc phục những thiếu sót, sai lầm trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cũng như ban hành các quyết định phù hợp với thực tế khách quan khi phát hiện những tình tiết mới có thể làm thay đổi nội dung cơ bản của bản án, quyết định của Tòa án mà đương sự và cả Tòa án đều không thể biết khi giải quyết vụ việc dân sự. Nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp 3 Lê Thọ Bình - Bá Kiên (2003), “Chất lượng xét xử của chúng ta đã ổn chưa?”, Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, (87), tr.