Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống tư pháp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa án nhân dân giữ vai trò là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013. Hoạt động xét xử của Tòa án được vận hành theo chế độ hai cấp gồm sơ thẩm và phúc thẩm. Về nguyên tắc, bản án hoặc quyết định phúc thẩm sẽ có hiệu lực thi hành ngay. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy vẫn phát sinh những sai sót nghiêm trọng về áp dụng pháp luật, vi phạm thủ tục tố tụng hoặc xuất hiện những tình tiết khách quan mới làm thay đổi bản chất vụ án. Để khắc phục các hạn chế của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Nhà nước đã ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và tiếp tục sửa đổi, bổ sung năm 2011, qua đó hoàn thiện cơ chế xem xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu nghiên cứu này gắn liền với mục tiêu được đặt ra tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Mặc dù quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, thực tiễn áp dụng thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm dân sự vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: nhận thức của người dân còn hạn chế do tâm lý mặc định chấp nhận bản án đã có hiệu lực; lý luận pháp lý giữa các nhà nghiên cứu và cơ quan thực thi còn tồn tại tranh luận; tình trạng thụ lý và khiếu nại tràn lan gây quá tải cho các cấp Tòa án.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng, xây dựng định nghĩa khoa học, phân tích đặc điểm và ý nghĩa của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng dân sự.
  2. Trình bày, phân tích toàn diện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về điều kiện kháng nghị, thẩm quyền, phạm vi, thành phần và thủ tục phiên tòa xem xét lại bản án, quyết định.
  3. Đánh giá thực trạng pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật, chỉ ra những điểm tiến bộ song song với những vướng mắc, bất cập còn tồn tại trong hoạt động của ngành Tòa án.
  4. Đề xuất các giải pháp sửa đổi quy định lập pháp và biện pháp tăng cường hiệu quả thực thi nhằm bảo đảm tính khả thi của hai thủ tục này trong thực tiễn.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định pháp luật và hoạt động thực tiễn liên quan đến thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật tố tụng dân sự (trọng tâm là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011), gắn với dữ liệu thực tiễn công tác giải quyết án tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh (điển hình tại tỉnh Tây Ninh) và Tòa án nhân dân tối cao, thông qua các báo cáo tổng kết giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; chủ trương, đường lối cải cách tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu tại Nghị quyết số 49-NQ/TW.

Cơ sở pháp lý trực tiếp phục vụ phân tích bao gồm: Hiến pháp năm 2013; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân các năm 1960, 1981, 2002; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2011); Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2011); Thông tư số 83/TATC năm 1982; Thông tư liên tịch số 01/TTLN năm 1982; Thông tư liên tịch số 03/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/10/2013. Bên cạnh đó, tác giả còn tham khảo kinh nghiệm lập pháp tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga, Nhật Bản và Cộng hòa Liên bang Đức.

Tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp logic pháp lý: sử dụng để phân tích các khái niệm, quy phạm và mối liên hệ giữa các chế định tố tụng.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: mổ xẻ các điều luật quy định về quyền kháng nghị, thẩm quyền của Hội đồng xét xử, nhận diện các bất cập của quy phạm hiện hành.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: đối chiếu giữa thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm; đối chiếu các giai đoạn lập pháp của Việt Nam và mở rộng so sánh với mô hình của một số quốc gia.
  • Phương pháp thống kê, khảo sát: tổng hợp số liệu xét xử từ các văn bản chỉ đạo và báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án.

Nguồn dữ liệu của công trình trích xuất từ Báo cáo số 20/BC-TANDTC ngày 01/09/2010 của Tòa án nhân dân tối cao về tổng kết năm năm thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự; Báo cáo số 78/BC-TA ngày 19/12/2013 về tổng kết thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002; biên bản chất vấn tại phiên họp thứ 16 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII (ngày 22/03/2013); các bài nghiên cứu trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Nhà nước và pháp luật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự

Chương 1 hệ thống hóa quá trình hình thành của hai thủ tục trong lịch sử lập pháp Việt Nam: từ Điều 10 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 quy định chung về việc "xét lại", đến Điều 21 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 chính thức ghi nhận thuật ngữ giám đốc thẩm, tái thẩm, và hoàn thiện qua Pháp lệnh năm 1989 cùng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.

Về cơ sở thực tiễn, tác giả nêu rõ tính chất phức tạp của quan hệ dân sự và sự tồn tại hạn chế trong đội ngũ Thẩm phán (dẫn chứng từ khảo sát năm 2003 cho thấy cán bộ có trình độ đại học còn thiếu, gây ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết án sơ thẩm, phúc thẩm).

Tác giả đưa ra các định nghĩa khoa học cho từng thủ tục, đồng thời chỉ rõ sự khác biệt giữa giám đốc thẩm và hoạt động "giám đốc việc xét xử" theo Điều 18 Bộ luật Tố tụng dân sự: giám đốc việc xét xử là chức năng quản lý, kiểm tra hành chính - nghiệp vụ thường xuyên của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới, không phụ thuộc vào việc có kháng nghị; còn giám đốc thẩm là thủ tục tố tụng tư pháp chỉ phát sinh khi có quyết định kháng nghị từ chủ thể có thẩm quyền.

Đối với thủ tục tái thẩm, chương này xác lập ba điều kiện để một sự việc được coi là "tình tiết mới":

  1. Tình tiết đó đã tồn tại vào thời điểm giải quyết vụ án nhưng được phát hiện sau khi bản án đã có hiệu lực (mới được tìm thấy, không phải mới được tạo ra).
  2. Tình tiết có tính chất quan trọng, làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định.
  3. Tình tiết bảo đảm tính khách quan, nằm ngoài nhận thức của Tòa án và đương sự tại thời điểm xét xử.

Chương này cũng phân tích 07 đặc điểm riêng biệt của hai thủ tục: không phải là cấp xét xử thứ ba; đối tượng là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao); quyền kháng nghị thuộc về cá nhân lãnh đạo ngành Tòa án và Viện kiểm sát; phiên tòa không mở công khai; không có Hội thẩm nhân dân tham gia; bắt buộc có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp; căn cứ phát sinh hoàn toàn do luật định. Từ đó, 04 ý nghĩa pháp lý được khẳng định gồm: bảo vệ quyền lợi đương sự, bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động tư pháp và phục vụ công tác tổng kết, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.

Chương 2: Quy định của pháp luật Tố tụng dân sự hiện hành về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Chương 2 đi sâu phân tích cơ chế kháng nghị theo quy định tại các Điều 188, 279, 282, 302, 304, 310 và 375 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối tượng bị kháng nghị gồm: bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo/kháng nghị; quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; bản án, quyết định phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp dưới.

Về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm (Điều 283), luật quy định ba trường hợp:

  • Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án. Tác giả phân tích đây là phần nhận định của Tòa án thiếu chứng cứ xác minh hoặc không tương xứng với tài liệu hồ sơ.
  • Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng (vi phạm nguyên tắc hòa giải, thành phần xét xử không đúng, không bảo đảm quyền tranh tụng, thụ lý sai thẩm quyền hoặc hết thời hiệu).
  • Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật (áp dụng sai luật nội dung, vận dụng văn bản hết hiệu lực hoặc sai quan hệ pháp luật).

Về căn cứ kháng nghị tái thẩm (Điều 305), tác giả phân tích trường hợp phát hiện tình tiết mới quan trọng, cùng trường hợp có cơ sở chứng minh kết luận giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có hành vi giả mạo chứng cứ làm sai lệch kết quả vụ án.

Về trình tự và thời hạn tố tụng: thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm là 04 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ kèm kháng nghị; thời hạn gửi bản thuyết trình vụ án cho các thành viên Hội đồng là 07 ngày trước ngày mở phiên tòa; thời hạn gửi quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm là 05 ngày làm việc; thời hạn mở lại phiên tòa sau khi có quyết định hoãn là 30 ngày. Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm không có thẩm quyền sửa bản án mà chỉ có quyền: giữ nguyên bản án đúng pháp luật, hủy án để xét xử sơ thẩm lại hoặc phúc thẩm lại, hoặc đình chỉ giải quyết vụ án.

Chương này kết thúc bằng phần đối chiếu có hệ thống giữa thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm về căn cứ, chủ thể, thời hạn kháng nghị và thẩm quyền phán quyết của Hội đồng.

Chương 3: Thực trạng của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự và hướng hoàn thiện

Chương 3 chỉ ra các điểm tiến bộ của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành so với Pháp lệnh năm 1989:

  • Xác định rõ tính chất đặc biệt, chấm dứt tình trạng xem giám đốc thẩm là cấp xét xử thứ ba.
  • Bổ sung quyền đề nghị của đương sự và quyền thông báo của cơ quan, tổ chức tại Điều 284 và 306, quy định Tòa án và Viện kiểm sát phải vào sổ nhận đơn và cấp giấy xác nhận cho đương sự.
  • Chuẩn hóa nội dung đơn đề nghị theo Điều 284a* và ban hành Mẫu đơn số 01, Mẫu đơn số 02 kèm Thông tư liên tịch số 03/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC, giảm bớt tình trạng khiếu nại tràn lan, kéo dài thời gian thi hành án theo Báo cáo số 20/BC-TANDTC ngày 01/09/2010.
  • Bỏ thẩm quyền kháng nghị của Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhằm tránh mâu thuẫn giữa thẩm quyền hành chính và tố tụng; đồng thời bổ sung quyền thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị.
  • Giới hạn thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm (03 năm, gia hạn tối đa 02 năm) và tái thẩm (01 năm từ ngày biết căn cứ), xóa bỏ quy định không hạn chế thời gian của Pháp lệnh 1989.
  • Bãi bỏ thẩm quyền giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với các Tòa chuyên trách; bãi bỏ quyền sửa bản án của Hội đồng giám đốc thẩm, bổ sung quyền hủy một phần bản án.

Bên cạnh mặt tích cực, tác giả phân tích 05 điểm nghẽn pháp lý:

  1. Thiếu tiêu chí giải thích cụ thể các thuật ngữ "vi phạm nghiêm trọng", "sai lầm nghiêm trọng" và "tình tiết mới", dẫn đến phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người có thẩm quyền kháng nghị.
  2. Quy định thành phần Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm thiếu đồng bộ và bất cập về nhân sự: Ủy ban Thẩm phán cấp tỉnh cần ít nhất 2/3 tổng số thành viên (~06 Thẩm phán); Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ít nhất 2/3 tổng số thành viên (~12 Thẩm phán theo quy định tổng số thành viên không quá 17 người tại Điều 21 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002). Trong điều kiện toàn bộ Tòa án nhân dân tối cao chỉ có 109 Thẩm phán (Báo cáo số 78/BC-TA ngày 19/12/2013), việc triệu tập 12 thành viên cho một phiên họp gây quá tải và lãng phí thời gian lãnh đạo, đúng như thừa nhận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình tại phiên chất vấn ngày 22/03/2013. Luật cũng chưa quy định cách thức xử lý nếu phiên họp toàn thể triệu tập lại vẫn không đạt tỷ lệ quá nửa số phiếu tán thành.
  3. Cơ cấu chuyên môn trong Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Ủy ban Thẩm phán cấp tỉnh có tỷ lệ Thẩm phán chuyên trách dân sự rất thấp (chỉ từ 1 đến 2 người), làm giảm chất lượng giải quyết án dân sự.
  4. Điều 292 và Điều 310 quy định chỉ triệu tập đương sự "khi xét thấy cần thiết" nhưng không có hướng dẫn định tính, dẫn đến thực tế Tòa án hầu như không triệu tập đương sự tham gia phiên họp.
  5. Quyền hủy án để xét xử lại của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm tại Điều 297 và Điều 309 tạo nên vòng luẩn quẩn tố tụng: hủy án để sơ thẩm lại, sau đó phúc thẩm, rồi lại tiếp tục kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Theo ghi nhận của ông Trịnh Xuân Toản (Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương), có những vụ án bị xử đi xử lại hàng chục lần và kéo dài hàng chục năm do pháp luật thiếu quy định về điểm dừng tố tụng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận làm rõ tính chất phi xét xử của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, phân lập ranh giới pháp lý giữa việc sửa chữa sai sót áp dụng pháp luật (giám đốc thẩm) và việc xử lý thông tin khách quan phát sinh làm sai lệch bản án (tái thẩm). Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực tiễn và trích dẫn các tài liệu báo cáo của ngành Tòa án, phản ánh trung thực thực trạng tổ chức bộ máy và lập pháp tố tụng dân sự ở thời điểm năm 2014.

Bảng so sánh sau đây tổng hợp các điểm giống và khác biệt căn bản giữa hai thủ tục dựa trên kết quả nghiên cứu tại Chương 2 của khóa luận:

Tiêu chí so sánh Thủ tục Giám đốc thẩm Thủ tục Tái thẩm
Cơ sở pháp lý Quy định tại Chương XVIII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011). Quy định tại Chương XIX Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011).
Bản chất pháp lý Xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực do phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực do phát hiện tình tiết mới làm thay đổi cơ bản phán quyết.
Căn cứ kháng nghị 03 căn cứ luật định tại Điều 283: kết luận không phù hợp tình tiết; vi phạm nghiêm trọng thủ tục; sai lầm nghiêm trọng áp dụng luật. 04 căn cứ luật định tại Điều 305: tình tiết mới quan trọng; giám định/phiên dịch sai sự thật; giả mạo chứng cứ...
Thời hạn kháng nghị 03 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực; được gia hạn thêm 02 năm nếu đáp ứng đủ điều kiện luật định. 01 năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ kháng nghị tái thẩm.
Phạm vi hủy án Hội đồng có quyền hủy một phần hoặc hủy toàn bộ bản án, quyết định bị kháng nghị. Hội đồng chỉ có quyền hủy toàn bộ bản án, quyết định bị kháng nghị, không được hủy một phần.
Thẩm quyền giải quyết tiếp theo Hủy án để xét xử sơ thẩm lại hoặc phúc thẩm lại; giữ nguyên bản án đúng pháp luật của cấp dưới bị hủy/sửa trái luật. Hủy án để xét xử sơ thẩm lại từ đầu theo thủ tục chung; không có thẩm quyền hủy để phúc thẩm lại.
Thẩm quyền sửa án Tuyệt đối không có quyền sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới. Tuyệt đối không có quyền sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới.
Thời hạn mở phiên tòa 04 tháng kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án. 04 tháng kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án.

Về mặt đóng góp khoa học, tác giả chỉ ra các khoảng trống lập pháp như: sự thiếu vắng cơ chế biểu quyết dứt điểm khi họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán; bất cập về nhân sự Thẩm phán chuyên trách trong cơ cấu xét xử tập thể; và nguy cơ kéo dài vụ án do quyền hủy án không bị giới hạn số lần. Từ đó, khóa luận đề xuất hoàn thiện văn bản hướng dẫn giải thích căn cứ kháng nghị, tinh gọn thành phần Hội đồng giám đốc thẩm và bổ sung quy định điểm dừng tố tụng nhằm bảo đảm hiệu lực phán quyết của Tòa án.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được hoàn thành vào tháng 7 năm 2014, do đó phạm vi nghiên cứu thực tiễn và căn cứ lập pháp chịu sự giới hạn bởi hiệu lực của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) cùng Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. Công trình chưa bao quát các sửa đổi căn bản được ban hành sau thời điểm này (như Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Ngoài ra, số liệu thực tiễn chủ yếu dựa vào các báo cáo tổng hợp cấp trung ương và Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, chưa phân tích đối chiếu chuyên sâu trên phạm vi toàn diện các Tòa án chuyên trách tại các đô thị lớn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:

  • Đánh giá sự chuyển dịch của các quy định về giám đốc thẩm, tái thẩm theo các đạo luật tố tụng và tổ chức tòa án mới.
  • Xây dựng bộ tiêu chí lượng hóa nhằm nhận diện các vi phạm tố tụng có tính chất nghiêm trọng.
  • Nghiên cứu mô hình hạn chế số lần xem xét lại bản án nhằm giải quyết dứt điểm tình trạng án bị xử nhiều lần kéo dài hàng thập kỷ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên luật, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự khi nghiên cứu về lịch sử lập pháp và các giai đoạn tố tụng đặc biệt. Nội dung phân tích sự khác nhau giữa "giám đốc thẩm" và "giám đốc việc xét xử", tiêu chí xác định "tình tiết mới", cùng bảng đối chiếu chi tiết giữa giám đốc thẩm và tái thẩm tại Chương 2 là những phần có giá trị tham khảo học thuật trực tiếp. Đối với những người làm công tác nghiên cứu lập pháp và cán bộ tư pháp, các số liệu và nhận định về bất cập trong cơ cấu thành phần Hội đồng Thẩm phán tại Chương 3 cung cấp cơ sở thực tiễn để đánh giá mô hình tổ chức xét xử.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đưa ra những điều kiện nào để một sự việc được xem là "tình tiết mới" trong thủ tục tái thẩm? Dưới góc độ khoa học pháp lý, tác giả nêu ba điều kiện bắt buộc: thứ nhất, tình tiết phải tồn tại khách quan vào thời điểm Tòa án giải quyết vụ việc nhưng chỉ được tìm thấy sau khi bản án có hiệu lực (tính mới ở đây là mới tìm thấy chứ không phải mới phát sinh); thứ hai, tình tiết phải có ý nghĩa quan trọng, làm thay đổi cơ bản nội dung phán quyết; thứ ba, Tòa án và các đương sự hoàn toàn không thể biết được tình tiết đó trong quá trình giải quyết vụ án.

2. Điểm khác biệt cơ bản giữa "giám đốc thẩm" và "giám đốc việc xét xử" theo Điều 18 BLTTDS là gì? Giám đốc việc xét xử là hoạt động quản lý hành chính - nghiệp vụ thường xuyên của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới (thanh tra, kiểm tra, rút kinh nghiệm), không phụ thuộc vào việc có kháng nghị. Ngược lại, giám đốc thẩm là một thủ tục tố tụng tư pháp đặc biệt, chỉ phát sinh khi có quyết định kháng nghị hợp lệ của người có thẩm quyền đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

3. Tại sao tác giả đánh giá quy định về thành phần Hội đồng Thẩm phán TANDTC khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm là bất cập? Theo Điều 54 BLTTDS và Điều 21 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, phiên họp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có ít nhất 2/3 tổng số thành viên tham gia (lên đến 12 Thẩm phán). Quy định này gây lãng phí nguồn lực trong bối cảnh cả nước chỉ có 109 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (theo Báo cáo 78/BC-TA năm 2013), gây khó khăn cho việc tập trung đầy đủ lãnh đạo để mở phiên tòa và làm chậm tiến độ giải quyết án.

4. Luật sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã sửa đổi quy định gì về đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm để tránh khiếu nại tràn lan? Luật năm 2011 bổ sung Điều 284a* quy định các nội dung bắt buộc phải có trong đơn đề nghị, đồng thời Thông tư liên tịch số 03/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ban hành chuẩn hóa Mẫu số 01 (cho giám đốc thẩm) và Mẫu số 02 (cho tái thẩm). Quy định này buộc đương sự phải nêu rõ căn cứ pháp lý thay vì khiếu nại tùy tiện, đồng thời ràng buộc trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát trong việc ghi sổ và cấp giấy xác nhận đã nhận đơn.

5. Vì sao thẩm quyền hủy án của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm bị coi là nguyên nhân dẫn đến tình trạng án kéo dài hàng chục năm? Khi Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm ra quyết định hủy bản án để xét xử sơ thẩm lại, quy trình tố tụng sẽ quay trở lại từ đầu. Bản án sơ thẩm mới có thể tiếp tục bị kháng cáo lên phúc thẩm, và sau khi có hiệu lực, nếu lại phát hiện vi phạm hoặc tình tiết mới thì lại tiếp tục bị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Do pháp luật không quy định điểm dừng giới hạn số lần hủy án, vụ việc có nguy cơ rơi vào vòng xét xử lặp đi lặp lại nhiều lần.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hiền đã giải quyết có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011). Tác giả đã làm rõ bản chất phi xét xử của hai thủ tục đặc biệt, phân định cụ thể các căn cứ kháng nghị và chỉ ra những điểm nghẽn trong tổ chức bộ máy xét xử của Tòa án. Công trình là tài liệu tổng hợp có giá trị tham khảo học thuật về mô hình tố tụng dân sự Việt Nam trong giai đoạn cải cách tư pháp trước năm 2015.