Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật "Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự" được tác giả Trần Ngọc Mai Phương thực hiện năm 2013 tại Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Phương. Đề tài được triển khai trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Về mặt thực tiễn lập pháp, Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2005) đã đánh dấu bước chuyển biến căn bản về địa vị của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND). Trước thời điểm này, theo quy định tại Điều 21 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, VKSND thực hiện chức năng kiểm sát đối với 100% các vụ việc dân sự từ khâu thụ lý đơn cho đến khi thi hành án xong. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2004 (tại các Điều 21, 25, 27, 29, 31) đã thu hẹp đáng kể phạm vi tham gia của VKSND. Tác giả dẫn chứng báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị nhận định: việc giảm thiểu cơ chế giám sát toàn diện đã trực tiếp dẫn đến tình trạng chất lượng xét xử án dân sự còn hạn chế, tỷ lệ án bị cải sửa, hủy án và tỷ lệ kháng cáo gia tăng trên phạm vi cả nước. Dù BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011, hoạt động của cơ quan kiểm sát trong tố tụng dân sự vẫn nảy sinh nhiều vướng mắc lý luận và thực tiễn cần được giải quyết một cách có hệ thống.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Phân tích cơ sở lý luận về vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự, xây dựng khái niệm và làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong từng giai đoạn tố tụng.
  2. Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quy định pháp luật về vai trò của VKSND theo BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và chỉ ra các bất cập phát sinh trong quá trình áp dụng.
  3. Đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động của VKSND trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật và cơ chế thực hiện vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hoạt động kiểm sát của VKSND qua công tác xét xử của Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (trọng tâm là BLTTDS năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 và các văn bản hướng dẫn áp dụng đến năm 2013), đồng thời mở rộng so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin (đặc biệt là học thuyết về nhà nước và pháp luật, tác phẩm "Bàn về song trùng trực thuộc và pháp chế" của V.I. Lênin), tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền tư pháp nhân dân, cùng các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp (Nghị quyết Đại hội IX, Đại hội X, Nghị quyết số 49-NQ/TW).

Hệ thống cơ sở pháp lý và văn bản quy phạm pháp luật được khai thác trực tiếp trong công trình bao gồm:

  • Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001 theo Nghị quyết số 51/2001/QH10).
  • Các đạo luật tổ chức bộ máy: Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân các năm 1960, 1981, 1989, 2002; Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
  • Pháp luật tố tụng: BLTTDS năm 2004, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011.
  • Văn bản hướng dẫn áp dụng: Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/08/2012 của VKSNDTC và TANDTC; Quyết định số 59/2006/QĐ-VKSTC-V7 về Quy chế công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự ban hành ngày 08/10/2012 của Viện trưởng VKSNDTC.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để mổ xẻ các điều luật, quy chế nghiệp vụ, làm rõ bản chất quyền năng của Kiểm sát viên trong từng giai đoạn tố tụng.
  • Phương pháp lịch sử - cụ thể: Phân tích sự tiến hóa của chế định kiểm sát tố tụng dân sự qua các thời kỳ lập hiến và lập pháp từ năm 1945 đến năm 2013.
  • Phương pháp luật so sánh: Đối chiếu mô hình tổ chức và quyền năng trong tố tụng dân sự của cơ quan công tố/kiểm sát tại Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hoa Kỳ và Nhật Bản.
  • Phương pháp thống kê pháp lý: Tổng hợp dữ liệu cơ cấu tổ chức ngành Kiểm sát (số lượng cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện), các thời hạn và căn cứ tố tụng luật định.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu kế thừa có chọn lọc từ các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sĩ luật học (Hoàng Thế Anh, 2006; Lưu Mỹ Linh, 2009; Nguyễn Thị Minh Trang, 2011), các bài báo khoa học trên Tạp chí Kiểm sát (Phạm Vũ Ngọc Quang, 2005; Nguyễn Ngọc Khánh, 2008; Lê Thành Dương, 2012; Nguyễn Thị Thủy, 2007; Nguyễn Xuân Hà, 2007) và hệ thống giáo trình tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật TP.HCM, Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan lý luận về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

Chương I tập trung làm rõ địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức và tính tất yếu khách quan của chức năng kiểm sát trong bộ máy nhà nước. Khóa luận phân tích nguyên tắc tổ chức của VKSND theo cơ cấu tập trung thống nhất lãnh đạo: Viện trưởng cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng cấp trên, toàn ngành chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSNDTC; đồng thời độc lập với các cơ quan nhà nước khác và chỉ chịu sự giám sát của Quốc hội. Hệ thống cơ quan gồm 3 cấp: VKSND tối cao; 63 VKSND cấp tỉnh; 691 VKSND cấp huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) cùng hệ thống Viện kiểm sát quân sự các cấp. Địa vị pháp lý của VKSND trong tố tụng dân sự mang tính chất kép: vừa là cơ quan tiến hành tố tụng, vừa là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm tính pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Lịch sử phát triển vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự Việt Nam được phân kỳ qua ba giai đoạn cụ thể:

  • Giai đoạn 1945 - 1960: Khởi đầu từ Sắc lệnh số 51/1946, Sắc lệnh số 131/1946 quy định Công tố viên có mặt tại phiên tòa hình và hộ; Sắc lệnh số 85 ngày 22/05/1950 và Thông tư số 21/TTg ngày 07/06/1950 trao quyền kháng nghị và kháng cáo bản án dân sự (việc hộ); Nghị định số 256/TTg ngày 01/07/1959 tách cơ quan công tố khỏi Bộ Tư pháp để trực thuộc Chính phủ, quy định quyền khởi tố vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích quốc gia.
  • Giai đoạn 1960 - 1989: Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức VKSND năm 1960 chính thức thành lập hệ thống VKSND độc lập trực thuộc Quốc hội, thực hiện kiểm sát chung và kiểm sát tư pháp; Hiến pháp năm 1980 và Luật năm 1981 tiếp tục trao quyền khởi tố vụ án dân sự và quyền tham gia 100% các phiên tòa, phiên họp.
  • Giai đoạn 1989 đến 2013: Luật sửa đổi năm 1989; Hiến pháp năm 1992 và đặc biệt là Nghị quyết số 51/2001/QH10 đã bãi bỏ chức năng kiểm sát chung, định vị VKSND tập trung vào thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và BLTTDS năm 2004 (sửa đổi 2011) thể chế hóa phạm vi kiểm sát trong tố tụng dân sự.

Ở phần so sánh quốc tế, khóa luận phân tích:

  • Pháp: Viện công tố đặt bên cạnh Tòa án nhưng độc lập, trực thuộc Bộ Tư pháp về mặt hành chính; trong tố tụng dân sự có quyền chủ động khởi kiện/khởi tố để bảo vệ trật tự công cộng và có quyền kháng nghị phá án (giám đốc thẩm) theo Điều 618-1 BLTTDS Pháp vì lợi ích của luật.
  • Liên bang Nga: Cơ quan kiểm sát độc lập, tập trung thống nhất, không kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án nhưng nhân danh nhà nước tham gia tố tụng để khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, tham gia các vụ án buộc chuyển chỗ ở, khôi phục việc làm, đòi bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe.
  • Trung Quốc: Cơ quan kiểm sát là thiết chế độc lập được tổ chức thành 4 cấp theo Hiến pháp, thực hiện chức năng giám sát pháp luật đối với hoạt động tố tụng dân sự.

Chương II: Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành

Chương II đi sâu phân tích toàn diện các quy chế pháp lý thực định điều chỉnh hoạt động của VKSND trong giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự và các thủ tục liên quan:

  1. Kiểm sát giải quyết vụ án dân sự:
  • Thủ tục sơ thẩm: VKSND kiểm sát việc thụ lý ngay từ khâu nhận đơn kiện; nếu Tòa án trả lại đơn không đúng căn cứ Điều 168 BLTTDS, Viện kiểm sát kiến nghị Chánh án Tòa án theo Điều 170 để khắc phục. Theo Điều 21 BLTTDS, Kiểm sát viên chỉ tham gia phiên tòa sơ thẩm trong các trường hợp: Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ; đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở; hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm thể chất/tâm thần. Tại phiên tòa sơ thẩm, theo Điều 234 BLTTDS, Kiểm sát viên chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX) và người tham gia tố tụng, tuyệt đối không phát biểu về nội dung và đường lối giải quyết vụ án. Sau phiên tòa, Kiểm sát viên có quyền kiểm tra biên bản (khoản 4 Điều 211) và hoàn thiện văn bản phát biểu gửi Tòa án (khoản 3 Điều 8 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC).
  • Thủ tục phúc thẩm: VKSND có quyền kháng nghị đối với mọi bản án sơ thẩm, nhưng đối với quyết định sơ thẩm thì chỉ được kháng nghị quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ (Điều 250 BLTTDS). Thời hạn kháng nghị bản án là 15 ngày đối với Viện kiểm sát cùng cấp, 30 ngày đối với cấp trên trực tiếp; thời hạn kháng nghị quyết định tương ứng là 7 ngày và 10 ngày (Điều 252 BLTTDS). VKSND bắt buộc phải tham gia 100% phiên tòa phúc thẩm (Điều 262, 266 BLTTDS), vắng mặt phải hoãn phiên tòa. Khác với cấp sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm, theo Điều 273a BLTTDS, Kiểm sát viên được quyền phát biểu quan điểm về việc giải quyết nội dung vụ án.
  • Thủ tục đặc biệt: VKSND tham gia bắt buộc tại các phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 285, 307 BLTTDS). Đặc biệt, tại thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (Điều 310a, 310b BLTTDS), Viện trưởng VKSNDTC có quyền kiến nghị; Chánh án TANDTC có trách nhiệm nghiên cứu báo cáo trong thời hạn 4 tháng; phiên họp Hội đồng Thẩm phán bắt buộc phải có sự tham dự của Viện trưởng VKSNDTC và quyết định hủy bản án vi phạm phải được ít nhất ba phần tư (3/4) tổng số thành viên Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành.
  1. Kiểm sát giải quyết việc dân sự:
  • Khái niệm việc dân sự lần đầu được quy định tại Điều 311 BLTTDS (các yêu cầu công nhận hoặc không công nhận sự kiện pháp lý, quyền dân sự mà không có tranh chấp). VKSND kiểm sát các việc dân sự về hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Do tính chất "công" vượt trội và không có hai bên đương sự đối kháng tự bảo vệ quyền lợi, pháp luật quy định Kiểm sát viên phải tham gia 100% phiên họp giải quyết việc dân sự sơ thẩm và phúc thẩm (Điều 313 BLTTDS). Đáng chú ý, tại phiên họp việc dân sự, Kiểm sát viên được quyền phát biểu quan điểm về việc giải quyết nội dung yêu cầu, khác biệt hoàn toàn với phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự.
  1. Kiểm sát bản án, quyết định, khiếu nại, tố cáo và thi hành án:
  • Phân tích thẩm quyền kiểm sát các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT), quyết định công nhận sự thỏa thuận (CNSTT), kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo theo Quyết định số 59/2006/QĐ-VKSTC-V7 và kiểm sát các hoạt động của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.

Chương III: Thực tiễn và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

Chương III tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS năm 2004 và Luật sửa đổi năm 2011 trong công tác kiểm sát. Tác giả chỉ ra các vướng mắc tồn tại: việc không tham gia xét xử toàn diện dẫn tới khó phát hiện vi phạm ở các vụ án không thuộc diện quy định tại Điều 21; quy định về quyền tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm theo Điều 273 BLTTDS còn mờ nhạt, thiếu cơ chế thực hiện; các mâu thuẫn giữa quy định tước bỏ quyền khởi tố vụ án dân sự của Viện kiểm sát với yêu cầu bảo vệ quyền lợi nhà nước và công cộng.

Từ các phân tích trên, khóa luận kiến nghị các giải pháp hoàn thiện thể chế:

  • Xác lập địa vị pháp lý đổi mới của VKSND theo hướng vừa là cơ quan đại diện, bảo vệ luật pháp, vừa đại diện cho lợi ích của Nhà nước và lợi ích công cộng trong tố tụng dân sự.
  • Cân nhắc mở rộng thẩm quyền khởi tố (khởi kiện) vụ án dân sự của VKSND trong các vụ việc xâm phạm đến lợi ích công cộng, tài sản công hoặc người yếu thế không có khả năng tự khởi kiện.
  • Quy định rõ ràng, cụ thể hơn thủ tục tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm và mở rộng quyền phát biểu ý kiến giải quyết nội dung đối với một số loại án sơ thẩm phức tạp.
  • Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa Tòa án và Viện kiểm sát theo Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC và hoàn thiện quy chế nghiệp vụ nội bộ của ngành Kiểm sát.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp, so sánh và hệ thống hóa các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, thời hạn và trách nhiệm tham gia của VKSND:

Giai đoạn / Thủ tục tố tụng Phạm vi tham gia của VKSND Quyền phát biểu về nội dung Thẩm quyền kháng nghị & Thời hạn
Phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự (Điều 21, 234 BLTTDS) Giới hạn theo luật định (thu thập chứng cứ, tài sản công, đất đai, nhà ở, người chưa thành niên...) Không được phát biểu quan điểm giải quyết nội dung; chỉ phát biểu về thủ tục tố tụng Bản án: 15 ngày (cùng cấp), 30 ngày (cấp trên). Quyết định đình chỉ/tạm đình chỉ: 7 ngày (cùng cấp), 10 ngày (cấp trên).
Phiên họp sơ thẩm việc dân sự (Điều 311, 313 BLTTDS) Tham gia 100% các phiên họp Được phép phát biểu quan điểm về việc giải quyết nội dung yêu cầu Kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm.
Phiên tòa phúc thẩm (Điều 262, 273a BLTTDS) Bắt buộc tham gia 100% phiên tòa, phiên họp giải quyết kháng cáo, kháng nghị Được phép phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án Kháng nghị bản án/quyết định phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm khi có căn cứ.
Giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 285, 295, 307 BLTTDS) Bắt buộc tham gia 100% các phiên tòa Được phép phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Kháng nghị thuộc thẩm quyền Viện trưởng VKSNDTC và Viện trưởng VKSND cấp tỉnh.
Xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (Điều 310a, 310b BLTTDS) Bắt buộc Viện trưởng VKSNDTC tham dự phiên họp Được phép phát biểu căn cứ kiến nghị, quan điểm tính hợp pháp Viện trưởng VKSNDTC có quyền kiến nghị; TANDTC nghiên cứu trong 4 tháng; thông qua khi có 3/4 biểu quyết.

Về mặt đóng góp khoa học, công trình đã:

  • Xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về bản chất pháp lý kép của VKSND trong tố tụng dân sự, phân định ranh giới giữa chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và tư cách cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Phân tích chi tiết tiến trình lập pháp từ Sắc lệnh số 51/1946 đến BLTTDS sửa đổi năm 2011, chỉ rõ hệ quả của việc thu hẹp thẩm quyền kiểm sát đối với chất lượng xét xử.
  • Luận giải cơ sở khoa học để tái định vị mô hình VKSND trong tương lai theo hướng kết hợp bảo vệ pháp luật với bảo vệ lợi ích công cộng, dựa trên kinh nghiệm tiếp thu có chọn lọc từ pháp luật Pháp và Liên bang Nga.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được hoàn thành vào năm 2013, do đó toàn bộ các nhận định lý luận và đánh giá thực tiễn đều gắn liền với khuôn khổ BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001). Đây là hạn chế khách quan về mặt thời gian, công trình chưa thể phản ánh những sửa đổi lớn trong Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 ban hành sau đó.

Bên cạnh đó, tác giả tự nhận định một số chế định pháp lý thực tế chưa được đào sâu tương xứng với tầm quan trọng, điển hình là quy chế tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm theo Điều 273 BLTTDS do thực tiễn tố tụng giai đoạn này còn ít được áp dụng và hướng dẫn chưa chi tiết.

Các hướng mở tiếp tục phát triển đề tài bao gồm:

  • Nghiên cứu mô hình kiểm sát tố tụng dân sự trong bối cảnh thi hành Hiến pháp mới và các luật tư pháp sửa đổi toàn diện.
  • Nghiên cứu cơ chế trao quyền khởi kiện các vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, môi trường và lợi ích công cộng cho cơ quan kiểm sát.
  • Đánh giá thực nghiệm hiệu quả kháng nghị và kiểm sát bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật qua số liệu thực tế tại các địa phương.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử lập pháp chi tiết từ năm 1945 đến năm 2013 và các phân tích so sánh pháp luật quốc tế (Pháp, Nga, Trung Quốc).
  • Người nghiên cứu về cải cách tư pháp: Cung cấp các luận cứ khoa học về sự cần thiết của kiểm soát quyền lực tư pháp, phân tích tác động qua lại giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử dân sự.
  • Cán bộ thực tiễn (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Chấp hành viên): Nắm bắt chi tiết các quy định về quyền hạn, nghĩa vụ văn bản, thủ tục kiểm sát biên bản phiên tòa và thời hạn kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm theo đúng tinh thần các thông tư liên tịch và quy chế nghiệp vụ của ngành Kiểm sát.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), VKSND tham gia các phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự trong những trường hợp cụ thể nào?
Căn cứ Điều 21 BLTTDS, Viện kiểm sát chỉ tham gia phiên tòa sơ thẩm trong 3 nhóm trường hợp: (1) Những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ; (2) Vụ án có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở; (3) Vụ án có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.

2. Quyền phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự có gì khác biệt so với phiên họp giải quyết việc dân sự và phiên tòa phúc thẩm?
Tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự (Điều 234 BLTTDS), Kiểm sát viên chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX và người tham gia tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi nghị án, không có quyền đưa ra quan điểm giải quyết nội dung vụ án. Ngược lại, tại phiên họp sơ thẩm việc dân sự (Điều 313 BLTTDS) và phiên tòa phúc thẩm (Điều 273a BLTTDS), Kiểm sát viên được quyền phát biểu trực tiếp quan điểm về việc giải quyết nội dung của việc dân sự hoặc vụ án.

3. Thời hạn kháng nghị phúc thẩm đối với bản án và quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ sơ thẩm của Tòa án được quy định như thế nào?
Theo Điều 252 BLTTDS: Đối với bản án sơ thẩm, thời hạn kháng nghị của VKSND cùng cấp là 15 ngày, của VKSND cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án (hoặc từ ngày nhận bản án nếu không tham gia phiên tòa). Đối với các quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 7 ngày, của cấp trên trực tiếp là 10 ngày.

4. Thủ tục Viện trưởng VKSNDTC kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC xét lại quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định với các điều kiện nào?
Theo Điều 310a và 310b BLTTDS, thủ tục diễn ra khi có kiến nghị của Viện trưởng VKSNDTC (hoặc yêu cầu của UBTVQH, đề nghị của Chánh án TANDTC). Chánh án TANDTC có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ báo cáo Hội đồng Thẩm phán trong 4 tháng. Phiên họp xem xét bắt buộc phải có sự tham gia của Viện trưởng VKSNDTC để phát biểu quan điểm. Quyết định hủy bản án, quyết định vi phạm phải được ít nhất 3/4 tổng số thành viên Hội đồng Thẩm phán TANDTC biểu quyết tán thành.

5. Điểm tương đồng nổi bật về vai trò trong tố tụng dân sự giữa Viện công tố Cộng hòa Pháp và VKSND Việt Nam được khóa luận chỉ ra là gì?
Khóa luận chỉ ra rằng cả Viện công tố Pháp và VKSND Việt Nam đều có quyền năng kháng nghị vì lợi ích của pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất và tính tối cao của pháp luật. Cụ thể, Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa Phá án của Pháp có quyền kháng nghị phá án (tương đương thủ tục giám đốc thẩm) theo Điều 618-1 BLTTDS Pháp để bảo vệ lợi ích của luật, tương đồng với thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng VKSNDTC tại Việt Nam.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Ngọc Mai Phương là công trình nghiên cứu chuyên khảo pháp lý toàn diện về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam tại thời điểm năm 2013. Tác phẩm đã phân tích thấu đáo bản chất lý luận, tiến trình lập pháp và các quyền năng thực định của Kiểm sát viên qua từng thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và giải quyết việc dân sự. Trên cơ sở so sánh kinh nghiệm lập pháp quốc tế và nhận diện các bất cập của BLTTDS năm 2004 sửa đổi năm 2011, khóa luận cung cấp hệ thống giải pháp nhất quán nhằm nâng cao vị thế và hiệu quả giám sát tư pháp của cơ quan kiểm sát theo định hướng cải cách tư pháp tại Việt Nam.