Chương 1. Một sô vẫn đề lý luận về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mắt tích Chương 2. Thực trạng pháp luật TTDS Việt nam hiện hành về thủ tục tuyên bố một người mắt tích và thực tiễn thực hiện Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật TTDS Việt Nam nhăm nâng cao hiệu quả giải quyết yêu câu tuyên bô một người mat tích.
MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE THỦ TỤC GIẢI QUYÉT YÊU CAU TUYỂN BÓ MỘT NGƯỜI MÁT TÍCH 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mắt tích 1. Khái niệm thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mắt tích 1. Khải niệm yêu cau tuyên bố một người mat tích Quá trình hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong những năm trở lại đây và đang tạo nền tảng xây dựng một bộ mặt mới ở nước ta.
Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó thì việc xảy ra cũng như phức tạp hóa các mối quan hệ liên quan đến dân sự dan trở nên phô biến. Trong đó, các mối quan hệ dân sự tiềm ân nguy cơ xung đột, tranh chấp, và thậm chí không có tranh chấp. Những xung đột này cũng tác động đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tô chức và cá nhân tham gia trong những quan hệ này. Dé bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của mình, hệ thống pháp luật đã quy định các chủ thé này có quyền khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự.
Điều nay cũng bat buộc các co quan tiến hành t6 tụng phải có những biện pháp nhằm phân biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự. Lĩnh vực pháp luật dân sự rất gần gũi với các chủ thé trong đời sống hàng ngày. Sẽ không thiếu các trường hợp cá nhân gặp phải những trường hợp cần phải được giải quyết bởi quy định của pháp luật dân sự. Như vậy, tồn tại một khái niệm là vụ việc dân sự trong lĩnh vực dân sự.
Trong các pháp lệnh tố tụng trước thời điểm BLTTDS được ban hành không có sự phân biệt giữa vụ án với việc dân sự. Tất cả các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thâm quyên giải quyết của Tòa án, du các bên đương sự có tranh chấp hay không có tranh chấp đều gọi chung là vụ 10 án. Thuật ngữ việc dân sự lần đầu tiên được ghi nhận trong pháp luật TTDS Việt Nam trong các quy định của BLTTDS. Theo đó, khái niệm việc dân sự được ghi nhận tại Điều 311 BLTTDS 2004, sửa đổi bổ sung.
Trên cơ sở hoàn thiện các quy định của pháp luật thì tại điều 361, BLTTDS 2015 đã quy định rõ ràng và cụ thê. Việc dân sự có bản chất là khi các cá nhân và tổ chức không có tranh chấp về quyên và lợi ích hợp pháp giữa các bên hoặc đã đạt được thỏa thuận với nhau. Đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các bên yêu cầu Tòa án công nhận giá trị pháp lý của thỏa thuận đó hoặc khi chỉ có một bên liên quan đến việc pháp lý gây ra việc dân sự, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoặc quyền dân sự đã yêu cầu Tòa án xác nhận sự việc pháp lý đó. Việc dân sự xảy ra khi một bên chủ thể có căn cứ pháp lý để tạo ra quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của họ hoặc của người khác và yêu cầu Tòa án xem xét việc công nhận các sự việc pháp lý và quyền đó cho họ.
Việc dân sự trong trường hợp này cũng bao gồm yêu cau liên quan đến hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, không chỉ giới hạn trong phạm vi việc dân sự thuần túy. Vì vậy, việc dân sự không chỉ liên quan đến các vụ việc dân sự cụ thể, mà còn bao gồm yêu cau liên quan đến hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mai, lao động. Trong đó, yêu cầu tuyên bố một người mat tích, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích là những yêu cầu về việc dân sự thuộc thâm quyên giải quyết của TAND. Vậy, yêu cầu tuyên bố một người mat tích được hiểu như thé nào? Theo từ điển tiếng Việt, “mát tích” là “hoàn toàn không còn thấy tung tích đâu cả, cũng không còn rõ hay mat” [§, tr.
Khái niệm này đưa ra hai đặc điểm của mất tích đó là không còn thấy tung tích đâu và cũng không thấy còn hay mắt, nghĩa là trên thực tế một chủ thé được coi là mat tích khi những 11 người xung quanh họ không thấy được họ trên thực tế, cũng không liên lạc được với họ, mà cũng không biết họ đang ở đâu và trong tình trạng như thế nào. Theo từ điển giải thích ngôn ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội thì “mất tích tức là hoàn toàn không còn thấy tông tích đâu cả, cũng không rõ còn hay mat” [21, tr.80]; “tuyên bố mất tích là việc Tòa án có thẩm quyên theo yêu cau của nguoi có quyên, lợi ích liên quan tuyên bố một người mat tích do văng mặt tai nơi cư trú (biệt tích) đã 2 năm lién trở lên mà vẫn không có tin tức xác thực là người đó còn sống hay đã chết” [27, tr. Theo cách giải thích này, khi một người không còn rõ tung tích là còn sống hay đã chết thì những người có quyền và lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó là mất tích. Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động đều được hưởng quyền và gánh chịu các nghĩa vụ.
Tuy nhiên, trên thực tế có thê vì những nguyên nhân khách quan như thiên tai, hỏa hoạn, lũ lụt. hoặc nguyên nhân chu quan từ chính các chủ thé dẫn đến sự kiện cá nhân biệt tích mà không biết còn sống hay đã chết. Việc cá nhân biệt tích có thể làm gián đoạn các quan hệ pháp lí mà họ đang tham gia làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích chính đáng của chính họ hoặc những người có quyên, lợi ích liên quan trong các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính. Do đó, dé bao vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người biệt tích cũng như những chủ thể có quyên, lợi ích liên quan mà pháp luật quy định các chủ thé có quyền và lợi ích liên quan có thé yêu cầu Tòa án tam dừng tư cách chủ thé của người bị biệt tích dưới hình thức yêu cầu tuyên bố một người mất tích.
Như vậy, giữa những người yêu cầu tuyên bố một người mất tích không có tranh chấp với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng việc cá nhân biệt tích trong một thời gian nhất định mà không có tin tức gì làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích 12 của những người khác hoặc của chính người biệt tích nên những người có quyên, lợi ích liên quan yêu cầu Tòa án công nhận sự kiện mất tích. Yêu cầu tuyên bố một người là mất tích là một loại việc dân sự cụ thể, nên yêu cầu này có các đặc điểm như sau: - Ban chất của yêu cầu tuyên bố một người mat tích là các đương sự không có tranh chấp về quyên, lợi ích hợp pháp. Đây là một trong những điểm khác biệt lớn nhất giữa vụ án dân sự với việc dân sự nói chung và yêu cầu tuyên bố một người mất tích nói riêng. Trong vụ án dân sự luôn có sự tranh chấp, từ đó hình thành nên hai hoặc nhiều bên đối kháng nhau về mặt quyền và lợi ích, trong khi đó đối với việc dân sự nói chung và yêu cầu tuyên bố một người mất tích nói riêng các bên đương sự không có sự đối kháng.
- Yêu cầu tuyên bố một nguoi mất tích hoặc đã chết là yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lí là một người mất tích. Sự kiện này là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. - Yêu cầu tuyên bố một người mat tích chỉ có một bên đương sự. Nếu như trong vụ án dân sự các bên đương sự đối kháng nhau dé hình thành nên nguyên đơn và bị đơn thì trong yêu cầu tuyên bố một người mất tích chỉ có người yêu cầu và người có liên quan đến yêu cầu.
Bởi vì, bản chất của yêu cầu tuyên bố một người mất tích là yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý được xác định là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự chứ không phải giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự. Vậy, với những phân tích trên có thể hiểu: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích là việc các đương sự không có tranh chấp nhưng yêu câu Tòa án công nhận sự kiện pháp lí để tạm dừng tư cách chủ thể của người bị biệt tích mà sự kiện pháp lí này là cơ sở làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Khái niệm thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mat tích Việc dân sự theo quy định chung được giải quyết theo trình tự thủ tục quy định. Tuy nhiên, một điều dé nhận thấy là theo quy định của BLTTDS năm 2015 và các quy định trước đây đã đưa ra khái niệm về việc dân sự tuy nhiên lai không đưa ra khái niệm thế nào là “thủ tục giải quyết việc dân sự”.
Theo Tir điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì “thi tuc” là những việc cụ thê phải làm theo một trình tự quy định, dé tiễn hành những công việc có tính chất chính thức [8, tr. Trong từ điển Luật học của Viện khoa học Pháp lý Bộ tư pháp thì không có khái niệm về “thi tuc” mà chỉ có khái niệm về “thi tục tổ tung”. Theo đó “thu tục tổ tung” là “cách thức trình tự và nghỉ thức tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vụ dn đã được thụ lý hoặc khởi tô theo quy định của pháp luật” [29, tr. Do các vụ việc có tính chất đặc thù khác nhau nên pháp luật quy định các thủ tục tô tụng khác nhau tương ứng.
Thủ tục tố tụng hình sự được quy định áp dụng cho việc giải quyết các vụ án hình sự. Thủ tục tố tụng hành chính dé giải quyết các vụ án hành chính.