Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 1. Khái quát về phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự 1. Bản chất, ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự Tại Điều 102, khoản 1 của Hiến pháp năm 2013 quy định “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [21, tr. Điều 2, khoản 2 Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định “Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các vụ việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện cá tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết qua tranh tụng ra bản án, quyết định …” [22, tr.
Như vậy, chỉ có Tòa án mới được tổ chức phiên tòa, nhân danh nước Nhà nước xét xử và ban hành bản án, quyết định để giải quyết vụ án, vụ việc. Bản chất của phiên tòa giải quyết vụ án dân sự: Xét xử là chức năng quan trọng nhất của Tòa án nói riêng và của toàn bộ quá trình tố dân sự nói chung để xem xét tính hợp pháp, có căn cứ của các tài liệu, chứng cứ mà các đương sự đã cung cấp theo trình tự, thủ tục TTDS. Bằng việc xét xử sơ thẩm (hoặc xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm) thông qua quá trình điều tra trực tiếp tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của các bên, Tòa án với tính chất là cơ quan trọng tài kiểm tra lại và đánh giá một cách toàn diện, khách quan và đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết của vụ án dân sự để từ đó ra quyết định giải quyết vụ án (bản án hoặc quyết định) một cách công minh, có căn cứ, đúng pháp luật, bảo đảm tính thuyết phục, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự. Ý nghĩa của phiên tòa giải quyết vụ án dân sự: Xét xử vụ án dân sự là một giai đoạn tố tụng dân sự trung tâm và quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ chế độ XHCN; bảo vệ công lý; bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và 8 lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong các giai đoạn xét xử của Tòa án; giáo dục công dân chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật.
Một số quy định chung về phiên tòa giải quyết vụ án dân sự 1.Một số nguyên tắc cơ bản về xét xử vụ án dân sự a) Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự: Xét xử tập thể và khi xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia là hai nguyên tắc cơ bản, đặc biệt quan trọng trong xét xử vụ án dân sự của Tòa án. Về nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể: Điều 14 BLTTDS năm 2015, quy định “Toà án xét xử tập thể vụ án dân sự và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” [24, tr. Điều 10 Luật tổ chức TAND năm 2014, cũng quy định “Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Thành phần Hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử do luật tố tụng quy định” [22, tr.
Đây là nguyên tắc hiến định và được thể hiện đầy đủ trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Bản chất của nguyên tắc này thể hiện ở việc bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ, khách quan của việc nghiên cứu, giải quyết các vụ án dân sự và bảo đảm tính đúng đắn, công bằng, khách quan của các bản án và quyết định của Tòa án, tránh được tính chủ quan, độc đoán và tùy tiện trong hoạt động xét xử. Theo nguyên tắc này, việc xét xử các vụ án dân sự ở mọi cấp đều do Hội đồng xét xử được thành lập theo quy định của pháp luật thực hiện. Tuy nhiên, theo quy định BLTTDS hiện hành, thì trường hợp xét xử vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn chỉ do một Thẩm phán giải quyết.
Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trừ trường hợp xét xử vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn (Điều 65 BLTTDS). Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân (Điều 63 BLTTDS). Khi xét xử, quyết định theo đa số, các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết mọi vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề.
Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số, có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào hồ sơ vụ án. 9 Về nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự: Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”. Điều 8 Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định “Việc xét xử của Tòa án có Hội thẩm tham gia theo quy định của luật tố tụng, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” [22, tr.
Điều 11 BLTTDS năm 2015, cũng quy định “1. Việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Khi biểu quyết về quyết định giải quyết vụ án dân sự, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán” [24, tr. Theo BLTTDS, Hội thẩm nhân dân chỉ tham gia xét xử các vụ án dân sự còn đối với việc dân sự thì Hội thẩm nhân dân không tham gia.
Việc tham gia của Hội thẩm nhân dân giúp cho Tòa án xét xử không chỉ đúng pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Khi được cử hoặc bầu làm Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm không tách khỏi hoạt động lao động sản xuất của cơ quan, đơn vị mình. Với vốn hiểu biết thực tế, kinh nghiệm trong cuộc sống, sự am hiểu về phong tục tập quán địa phương, Hội thẩm nhân dân sẽ bổ sung cho Thẩm phán những kiến thức xã hội cần thiết trong quá trình xét xử để có được một phán quyết đúng pháp luật, được xã hội đồng tình ủng hộ. Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, từ việc đọc hồ sơ vụ án, nghiên cứu chứng cứ, cho đến việc ra quyết định giải quyết mọi vấn đề của vụ án, kể cả về nội dung và thủ tục tố tụng.
Mọi vấn đề của vụ án phải được Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thảo luận và thông qua tại phòng nghị án. Đây là điều quan trọng để Hội thẩm nhân dân thực sự phát huy được vai trò là đại diện cho quần chúng nhân dân của mình. b) Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định phải đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách 10 tư pháp, Điều 103 khoản 5 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã quy định “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”.
Điều 24 BLTTDS năm 2015 quy định: "1. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này. Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định” [24, tr. Từ quy định trên cho thấy: Về thời điểm và các giai đoạn tranh tụng của các đương sự được thực hiện từ khi khởi kiện thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết xong vụ án. Đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong các giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự; Đương sự, 11 người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này.