Chương 1 LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG 1. Lý luận về thu hồi đất để triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 1. Khái niệm và đặc điểm của thu hồi đất 1. Khái niệm thu hồi đất Ngược lại với khái niệm giao đất, cho thuê đất là những hình thức pháp lý làm hình thành một quan hệ pháp luật đất đai thì THĐ là một biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai.
Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thu hồi đất được hiểu là: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất bị lấn chiếm. Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước THĐ đang sử dụng của NSDĐ để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, công cộng” [49]. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước THĐ do cá nhân, tổ chức đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc THĐ phải minh bạch, công khai và được bồi thường theo quy định của pháp luật” [11].
Trên cơ sở pháp lý này, LĐĐ năm 2013 có hiệu lực vào ngày 1/7/2014 quy định: “Nhà nước THĐ là việc Nhà nước quyết định thu lại QSDĐ của người được Nhà nước trao QSDĐ hoặc thu lại đất của NSDĐ vi phạm pháp luật về đất đai” [19] Từ các khái niệm hay định nghĩa nêu trên cho thấy, dù vấn đề thu hồi đất đặt ra ở nhiều phương diện khác nhau, theo đó, thu hồi đất có thể vì lý do nhằm đảm bảo một trật tự chung trong quản lý nhà nước về đất đai, đảm bảo sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật đất đai đối với người sử dụng đất hay thu hồi đất để phục vụ cho những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của đất nước như quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì thu hồi đất đều được biểu hiện là một quyết định mang tính "đơn phương" từ Nhà nước áp dụng đối với các 6 chủ thể đang khai thác và sử dụng đất. Việc THĐ được biểu hiện bằng hình thức pháp lý là một quyết định THĐ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê đất. Như vậy, THĐ được hiểu: - THĐ là một quyết định HC của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng đối với một diện tích đất cụ thể nào đó. Theo đó, chỉ có cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo luật định mới được thực hiện quyết định thu hồi đất; - Quyết định hành chính thể hiện quyền lực Nhà nước nhằm thực thi nội dung của quản lý Nhà nước về đất đai và với vai trò là chủ sở hữu đại diện toàn bộ vốn đất đai trong cả nước nhằm để phân bổ và điều chỉnh đất đai trên thực tế cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và nhu cầu của các chủ thể sử dụng đất; - Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu THĐ như sau: Là các văn bản hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của NSDĐ và các trường hợp chấm dứt khác theo luật định. Đặc điểm của thu hồi đất Qua việc phân tích khái niệm THĐ, ta thấy rằng THĐ có ba đặc điểm cơ bản sau: - THĐ phải do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành: Thu hồi đất được thực hiện bởi quyết định THĐ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trong đó xác định rõ lý do thu hồi, mục đích thu hồi, chủ thể bị thu hồi, diện tích thu hồi. Thực tế cho thấy, dù thu hồi đất ở phương diện nào, do nhu cầu của Nhà nước hay do lỗi của người sử dụng đất thì hệ quả cũng làm mất đi quyền khai thác, sử dụng và sinh sống ổn định của một chủ thể đối với đất bị thu hồi, vì vậy, việc chấm dứt đó phải hết sức thận trọng và cân nhắc kỹ lưỡng.
Theo 7 đó, quy định của pháp luật xác định rõ cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất thì cơ quan đó mới được thực hiện quyền này mà không cơ quan nào khác thay thế. Quy định này nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm của Nhà nước trước mỗi quyết định thu hồi đất. - THĐ được thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định: THĐ là một trong những nội dung cơ bản của quản lý Nhà nước về đất đai cùng với việc giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất. Việc THĐ do cơ quan quản lý hành chính Nhà nước tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định.
Theo đó, trước mỗi quyết định thu hồi đất nhằm chấm dứt quyền sử dụng đất của những người đang sử dụng đất pháp luật quy định những quy trình và thủ tục với các bước tiến hành cụ thể nhằm đảm bảo tính minh bạch, dân chủ, công khai; người có đất bị thu hồi phải được thông báo trước về lý do thu hồi, kế hoạch di chuyển và phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng. Hoạt động thu hồi đất không chỉ được thực hiện bởi cơ quan quản lý nhà nước về đất đai mà còn có sự tham gia, giám sát của người có đất bị thu hồi, sự đồng hành của doanh nghiệp. trong từng khâu, từng công đoạn như: từ việc công bố chủ trương thu hồi đất hay công bố quy hoạch sử dụng đất chi tiết, đến việc tổ chức kiểm đếm tài sản và xây dựng dự thảo về phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, đến quy trình tổ chức lấy ý kiến, tiếp thu và giải trình các ý kiến của dân, đến khâu tổ chức niêm yết công khai phương án bồi thường và tổ chức chi trả tiền bồi thường. Tất cả đều thực hiện theo quy trình hết sức cụ thể và chặt chẽ.
- THĐ thể hiện tính hành chính mệnh lệnh, bắt buộc. Và được thực hiện giữa một bên là Nhà nước, bên kia là người chiếm giữ, quản lý sử dụng đất. Thực tế cho thấy, trước các quyết định thu hồi đất cho dù vì lý do gì, nghĩa vụ của người sử dụng đất cũng phải tuân thủ, chấp hành, giao lại đất cho Nhà nước khi có quyết định thu hồi đất [18] ngay cả khi người có đất bị thu hồi có không đồng tình với quyết định thu hồi đất đó. Bên cạnh phương pháp mệnh lệnh hành chính là phương pháp thuyết phục, giáo dục cũng được sử dụng khi THĐ để phục vụ cho mục đích an ninh, quốc phòng và lợi ích quốc gia.
Sự cần thiết khách quan của thu hồi đất để triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 1. Quan niệm về các dự án phát triển kinh tế, xã hội - Khái niệm Từ khi thuật ngữ dự án bắt đầu ra đời, thường được dùng để chỉ những quá trình, những hoạt động khác nhau trong từng lĩnh vực cụ thể. Chúng ta đã được biết đến rất nhiều dự án như dự án “Xây dựng đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông, sân bay quốc tế Long Thành, đường cao tốc Hà nội – Lào Cai, dự án “Xây dựng nút giao thông trung tâm quận Long Biên”, dự án “Xây dựng đường 5 kéo dài”, dự án “Xây dựng đường dây 500kw xuyên Bắc Nam”, dự án “Xây dựng thủy điện Sơn La”, dự án đào tạo phát triển nguồn nhân lực, dự án cải cách hệ thống hành chính, dự án cải tạo nâng cấp môi trường đô thị, dự án tăng cường tiềm lực và phát triển công nghệ quốc phòng… Các dự án này được tiến hành trong những lĩnh vực khác nhau, với nội dung và hoạt động cụ thể cũng khác nhau, nhưng chúng ta đều gọi là dự án. Có nhiều quan niệm khác nhau về dự.
Mỗi một quan niệm nhấn mạnh về một số khía cạnh của một dự án cùng các đặc điểm quan trọng của nó trong từng hoàn cảnh cụ thể. Nếu xét về hình thức, dự án là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống một dự kiến đầu tư trong tương lai. Nếu xét ở góc độ nội dung, dự án được hiểu là một ý đồ để tiến hành một công việc cụ thể nào đó nhằm đạt mục tiêu xác định trong khuôn khổ nguồn lực nhất định và khoảng thời gian nhất định. Xét từ giác độ quan sát các hoạt động cần thiết cho một dự án thì dự án được hiểu là hàng loạt các hoạt động cần thiết nhằm xác định mục tiêu, tiến hành các nghiên cứu khả thi, dự đoán chi phí, hoàn thiện các thủ tục và thiết kế cuối cùng, cũng như việc lắp đặt và hoàn thiện các điều kiện làm việc.
Một dự án nhất định sẽ bị giới hạn về thời gian, về con người cùng các nguồn lực khác để hoàn thành mục tiêu đã được xác định. 9 Luật Đấu thầu năm 2005 tại khoản 7 Điều 4 đưa ra khái niệm về dự án như sau: “Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định” Đến nay dự án đã được dùng rất rộng rãi và phổ biến cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và chúng có những đặc điểm sau: - Đặc điểm - Dự án được xác định rõ ràng về mục tiêu cần đạt được, thời hạn bắt đầu và kết thúc cũng như nguồn lực cần có với một cơ cấu, chất lượng, số lượng và thời điểm giao nhận. - Thời gian tồn tại của dự án có tính hữu hạn, dự án có tính ràng buộc về chi phí và nguồn lực. - Dự án có tính logic được thể hiện ở mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận cấu thành dự án: Một là: Kết quả dự án là những đầu ra cụ thể của dự án được tạo ra từ các hoạt động của dự án, kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án.