CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TẠI BẢO TÀNG CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Quan niệm về tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học lịch sử.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài - Hoạt động, hoạt động trong dạy học Nhà tâm lí học nổi tiếng A.Leonchiev trong cuốn “Hoạt động, ý thức và nhân cách” (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1989) lại cho rằng hoạt động “là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể” [65, 80]. Lí thuyết về hoạt động lại chú trọng vai trò của chủ thể hoạt động. Chủ thể (con người) chủ động tổ chức, điều khiển các hoạt động (hành vi, tinh thần, trí tuệ, v.) tác động vào đối tượng (sự vật, tri thức, v. Theo đó, cuộc đời con người được quan niệm là một chuỗi hoạt động.
Theo nhóm các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy và Đinh Văn Vang trong giáo trình “Tâm lý học đại cương” (NXB Đại học Sư phạm, 2003), “Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng luôn vận động… Vận động là thuộc tính vốn có, là phương thức tồn tại của sự vật và hiện tượng. Ở con người, thuộc tính đó, phương thức đó gọi là hoạt động… Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể)”. Từ sự phân tích nêu trên, chúng tôi quan niệm: Hoạt động là tiến hành một việc làm nào đó để đạt được mục đích nhất định. Hoạt động trong dạy 15 học là sự tương tác, tác động qua lại giữa GV và HS, giữa hoạt động dạy với hoạt động học nhằm đạt được mục tiêu của quá trình dạy học.
- Trải nghiệm: Trong từ điển tiếng Việt thông dụng – Phạm Lê Liên đã định nghĩa: “trải là đã từng trải qua, từng biết đến, còn nghiệm có nghĩa là kinh qua thực tế nhận thấy điều nào đó là đúng” [45, 1577]. Ngoài ra, theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “trải nghiệm” được diễn giải theo hai nghĩa. Trải nghiệm theo nghĩa chung nhất: “là bất kì một trạng thái có màu sắc, xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức…) trong đời sống tâm lí của từng người”. Ngược lại, theo nghĩa hẹp trải nghiệm là “những tín hiệu bên trong, nhờ đó các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức chuyển thành ý kiến cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân”[43].
Còn theo John Dewey, “trải nghiệm là quá trình con người kết nối bản thân với quá khứ, hiện tại và hướng tới tương lai”. Với ông, ý nghĩa lớn nhất của trải nghiệm là tính biện chứng, là sự tương tác giữa con người và thế giới. Sự tương tác ở đây bao gồm những gì? Nó bao gồm cả hình thức và kết quả của hoạt động thực tiễn, bao gồm vừa kĩ thuật vừa kĩ năng, cả những nguyên tắc hoạt động và phát triển của thế giới [31]. Qua các khái niệm và sự mô tả, định nghĩa trên, ta có thể rút ra, “trải nghiệm” là quá trình quan sát (trải qua), tham gia hay tiếp xúc với sự vật, sự kiện nào đó trong thực tiễn, qua đó có được sự hiểu biết nhất định về chúng, nhằm thỏa mãn nhu cầu tự nhận thức, tự rèn luyện của cá nhân.
Sự hiểu biết đó chính là những kinh nghiệm của mỗi cá nhân và các kinh nghiệm sẽ luôn khác nhau do sự trải nghiệm của cá nhân A ở môi trường A1, A2,… điều kiện và hoàn cảnh không giống nhau sẽ tạo nên những nghiệm tương đương, 16 không giống nhau giữa mỗi người. Với tất cả những phân tích và dẫn chứng trên, chúng tôi có đủ các cơ sở cho rằng: “Trải nghiệm là quá trình cá nhân được trực tiếp tham gia và trải qua các hoạt động thực tiễn của cuộc sống (học tập, lao động, giao tiếp, vui chơi, nghiên cứu khoa học…) trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Ở đó, thông qua tương tác, giao tiếp với sự vật, hiện tượng, con người; họ có cơ hội được thực hành, thực tế; được phát hiện và chứng minh khả năng của mình. Từ đó hình thành những kinh nghiệm, những xúc cảm tích cực hướng tới phát triển năng lực cá nhân.” - Hoạt động trải nghiệm trong dạy học: Từ các góc độ nghiên cứu khác nhau và dựa trên nhiều quan điểm khác nhau về HĐTN, cụ thể như: Theo Piaget: HĐTN trong nhà trường chính là những hiểu biết của con người, mục tiêu không phải nhằm tạo ra bản sao thực tế mà phải thông qua hành động để biến đổi thực tế mà họ quan sát và nghiên cứu được.
HĐTN cũng xuất hiện trong một số văn bản chỉ đạo của Bộ giáo dục và Đào tạo trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây. Cụ thể hơn: Trong chương trình giáo dục phổ thông (2018), HĐTN được nhắc đến là các hoạt động giáo dục bắt buộc. Khi tham gia các HĐTN, học sinh sẽ dựa trên sự huy động tổng hợp kiến thức và kĩ năng từ nhiều lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình và xã hội; tham gia các hoạt động hướng nghiệp, hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự tổ chức của nhà giáo dục. Qua đó, giúp HS hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực thành phần đặc thù của hoạt động này như: năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp, năng lực thích ứng với hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp, năng lực thích ứng với những biến động trong cuộc sống và những kỹ năng 17 sống khác [10, 28].
Ở một nghiên cứu khác, theo Lê Huy Hoàng – HĐTN là hoạt động xã hội, thực tiễn giúp học sinh được tự chủ trải nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện phẩm chất năng lực; nhận ra năng khiếu, đam mê, sở thích, bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị, nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân; bổ trợ và cùng với các hoạt động dạy học trong chương trình giáo dục thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục. Hoạt động này nhấn mạnh sự trải nghiệm, thúc đẩy sự sáng tạo của người học và được tổ chức một cách linh hoạt, sáng tạo [7, 62]. Theo Bùi Ngọc Diệp, HĐTN là các hoạt động giáo dục là hoạt động có mục đích, có tổ chức được thực hiện trong hoặc ngoài nhà trường nhằm phát triển, nâng cao các phẩm chất và tiềm năng của bản thân HS, nuôi dưỡng ý thức sống tự lập, đồng thời tham gia các hoạt động quan tâm, chia sẻ với những người xung quanh; hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, ý trí, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại [7, 85]. Khi được diễn đạt bằng những cách thức khác nhau của ngôn từ, các định nghĩa trên đều gặp nhau ở một điểm chung.
Đó là HĐTN được diễn đạt, định nghĩa là một hoạt động có tính chủ đích, nghĩa là có mục đích rõ ràng của con người. Ngoài tính chủ đích, HĐTN còn được diễn đạt là một hoạt động có tính kế hoạch, được định hướng rõ ràng (ở đây người định hướng là người giảng dạy); và từ đó được thiết kế, tiến hành trong các khoảng thời gian rõ ràng (trong hoặc ngoài giờ học), dưới sự hướng dẫn và tổ chức của các nhà giáo dục nhằm mục tiêu giúp hình thành và phát triển năng lực của đối tượng tham gia học tập (học sinh, sinh viên, học viên.) Với tất cả các phân tích, nhận định và sự tổng hợp các nguồn thông tin, nghiên cứu trên, chúng tôi hoàn toàn có thể đặt ra một khái niệm: “HĐTN trong dạy học là một quan điểm dạy học mà trong đó HS được tham gia vào các tình huống lí thuyết và thực hành, từ đó tích lũy thêm những 18 kinh nghiệm trong thực tiễn để hình thành và phát triển năng lực”. Quan niệm về tổ chức hoạt động trải nghiệm trong môn lịch sử: Gần đây, các hình thức HĐTN đã được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông mới với mục đích chính là chuyển hóa kiến thức, kỹ năng, thái độ thành năng lực của HS. Vì thế, HĐTN không chỉ có trong các hoạt động giáo dục mà còn gắn với từng môn học cụ thể, là một phần của giáo dục môn học.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, mục tiêu luận văn là đi sâu nghiên cứu việc tổ chức HĐTN trong môn học LS. Trên thực tế, HĐTN trong môn học ở trường THPT là một khái niệm khá mới mẻ. Xét riêng trong trường hợp bộ môn lịch sử được đề cập ở đây, chúng tôi thấy khá nhiều tiềm năng để áp dụng và đưa HĐTN này vào thực tiễn quá trình giảng dạy qua nhiều lần tổ chức cho người học trải nghiệm. Tuy nhiên, quá trình để biến HĐTN trong DHLS thực sự là một hoạt động mang lại những hiệu quả giáo dục có ý nghĩa, cần tổ chức hoạt động dạy và học theo các hoạt động phù hợp với từng nội dung và tạo điều kiện, cơ hội cho người học, ở đây là học sinh THPT được thể hiện các giá trị của bản thân.
Các phân tích, tổng hợp thông tin trên giúp chúng tôi hoàn toàn có thể đặt ra một khái niệm về HĐTN gắn liền với môn LS và các khung năng lực cần đạt được như sau: “HĐTN trong môn LS là một cách thức dạy học gắn với các hoạt động thực hành, thực tế; có thể được tổ chức trong các giờ học nội khóa hoặc ngoại khóa (trong lớp học, trường học hay các địa điểm phù hợp). Trong đó, HS phải vận dụng vốn kiến thức LS (các sự kiện, hiện tượng, các khái niệm, các nhận định, đánh giá LS…) để phân tích, khái quát hóa thành kiến thức của bản thân và vận dụng để giải quyết vấn đề thực tiễn sao cho phù hợp với nội dung môn học”.