MỞ ĐẦU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Trên thế giới Vào những năm 30 - 40 - 60 của thế kỷ XX, vấn đề sử dụng trò chơi dạy học trên “tiết học” được phản ánh trong công trình của R.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy học bằng trò chơi. Tác giả chỉ ra những tiềm năng và lợi thế của những “tiết học” dưới hình thức TCHT, coi TCHT như là hình thức dạy học, giúp người học lĩnh hội những tri thức mới từ những ý tưởng đó và đã soạn thảo ra một số “tiết học – trò chơi” và đưa ra một số yêu cầu khi xây dựng chúng [5].
Trong nền giáo dục cổ điển, ý tưởng sử dụng trò chơi với mục đích dạy học được thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo dục của nhà sư phạm người Đức Ph.Phroebel (1782-1852) là người đã khởi xướng và đề xuất ý tưởng kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ. Quan điểm của nhà sư phạm về trò chơi phản ánh cơ sở lý luận sư phạm duy tâm thần bí. Tác giả cho rằng thông qua trò chơi trẻ nhận thức được cái khởi đầu do thượng đế sinh ra tồn tại ở khắp mọi nơi, nhận thức được những qui luật tạo ra thế giới, tạo ra ngay chính bản thân mình. Vì thế tác giả đã phủ nhận tính sáng tạo và tính tích cực của trẻ trong khi chơi.Phroebel cho rằng, nhà giáo dục chỉ cần phát triển cái vốn có sẵn của trẻ, đồng thời đề cao vai trò giáo dục của trò chơi trong quá trình phát triển thể chất, làm vốn ngôn ngữ cũng như phát triển tư duy, trí tưởng tượng của trẻ [2].Bazedov cho rằng, trò chơi là phương tiện dạy học.Bazedov, nếu trên tiết học, GV sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết học dưới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của người học và tất nhiên hiệu quả tiết học sẽ cao hơn.
Tác giả đã đưa ra hệ thống TCHT dùng lời như: trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển kỹ năng khái quát tên gọi của cá thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa, điền những từ còn thiếu. Theo ông, những trò chơi này mang lại cho người học niềm vui và phát triển năng lực trí tuệ của trẻ [2]. Ngay từ đầu thế Kỷ XX nhà nghiên cứu tâm lý học thụy sĩ J.Piaget đã rất quan tâm tới phương pháp dạy học “ thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành học tập” [3]. Ở Việt Nam v Trong thời kì tích cực đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, có rất nhiều tác giả đã đề cập đến TCHT, nghiên cứu, thiết kế và sử dụng TCHT trong dạy học như: Tác giả Trần Thị Hoài Phương (2018) dẫn lại quan điểm của nhà sư phạm nổi tiếng Crupxkaia: “TCHT không những là phương thức nhận biết thế giới, là con đường dẫn dắt trẻ đi tìm chân lí mà còn giúp trẻ xích lại gần nhau, giáo dục cho trẻ tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc.
Trẻ em không chỉ học trong lúc học mà còn học trong lúc chơi. Chơi với trẻ vừa là học, vừa là lao động, vừa là hình thức giáo dục nghiêm túc” [7]. Tác giả Bùi Thị Ngọc Anh (2018), đã giới thiệu 199 trò chơi rèn luyện ngôn ngữ và tư duy dành cho HS Tiểu học gồm nhiều kiểu loại trò chơi như: tìm kiếm, nối ghép, sắp xếp, phân loại trao đổi, gọi tên.; bám sát kiến thức về ngôn ngữ học ở bậc Tiểu học trên các phương diện: ngữ âm, chính tả, từ vựng, ngữ pháp. Các trò chơi được thiết kế nhằm củng cố lại những kiến thức về tiếng Việt mà HS đã học trên lớp; phát huy vốn kinh nghiệm mà các em đã tích lũy được trong cuộc sống; khơi gợi hứng thú, kích 4 thích trí tưởng tượng, khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề của các em [10].
Nhóm tác giả Trịnh Thị Phương Thảo, Lê Thị Diễm Quỳnh, Đào Minh Hoàng, Vũ Thanh tuyết (2022) trong nghiên cứu “thiết kế và sử dụng trò chơi kỹ thuật số trong dạy học môn toán lớp 6 ở trường trung học cơ sở” đã nghiên cứu việc ứng dụng trò chơi kỹ thuật số trong giảng dạy, nhằm nâng cao tính tương tác và thúc đẩy HS tham gia tích cực vào các hoạt động học tập một cách chủ động [9]. Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Lê Thị Cẩm Tú, Phan Hoàng Hải, Trương Thị Phương Thảo (2023) về đề tài “Sử dụng TCHT trong dạy học môn KHTN lớp 6”. Qua việc nghiên cứu đề tài nhóm tác giả đã kết luận rằng kết luận rằng: Tổ chức TCHT trong dạy học nói chung và dạy học môn KHTN nói riêng là cần thiết và phù hợp với tâm - sinh lí lứa tuổi HS. Nếu tổ chức TCHT có mục đích, nội dung cụ thể, được chuẩn bị và tổ chức chu đáo sẽ tạo không khí học tập hào hứng, sôi nổi, giúp các em nâng cao khả năng lĩnh hội kiến thức, ghi nhớ bài học.
Việc sử dụng TCHT trong dạy học đã tạo ra một môi trường học tập tích cực, HS chủ động, mạnh dạn hơn khi tham gia các hoạt động. Kết quả từ các trò chơi mang lại sẽ giúp GV có thể điều chỉnh lại phương pháp dạy học để phát huy được thế mạnh của HS, khắc phục vi những hạn chế còn tồn tại của các em; từ đó nâng cao hiệu quả dạy học. Quá trình xây dựng và sử dụng TCHT trong dạy học đòi hỏi kĩ năng sư phạm và khả năng sáng tạo của GV từ khâu xây dựng, lựa chọn, tổ chức và hướng dẫn HS tiếp thu kiến thức khi tham gia trò chơi. Vì vậy, GV cần nghiên cứu kĩ các TCHT để có thể triển khai hiệu quả trong dạy học nhằm góp phần thực hiện tốt hơn mục tiêu dạy học theo định hướng đổi mới giáo dục hiện nay [11].
Như vậy, trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về TCHT, song chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS trong dạy học môn KHTN lớp 7. Từ những điều trên chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thiết kế TCHT để dạy học KHTN lớp 7”. Tính cấp thiết của đề tài Đổi mới phương pháp giảng dạy: Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 được quy định trong Thông tư số 32 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã định hướng rõ mục tiêu về đổi mới phương pháp giảng dạy là phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực HS, giúp HS trở thành người học chủ động, có khả năng tư duy và biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Đổi mới phương pháp giảng dạy được định hướng lấy HS làm trung tâm, khuyến khích các em chủ động, tích cực tham gia và khám phá trong quá trình học tập.
Đồng thời, khuyến khích GV sử dụng đa dạng các phương pháp giảng dạy tích cực, hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo và năng lực hợp tác của HS, giúp bài học trở nên sinh động, hiệu quả, hấp dẫn hơn. Đáp ứng tốt yêu cầu của nền giáo dục hiện đại [1]. Trong các định hướng về phương pháp giáo dục chương trình môn KHTN năm 2018 đã viết “Tổ chức dạy học và phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học, người học tự chiếm lĩnh kiến thức qua các hoạt động học và vận dụng kiến thức. Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học, tránh ghi nhớ máy móc.
Tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, hiện đại đề cao vai trò chủ thể học tập của học viên” [1]. Chương trình 2018 đòi hỏi mỗi nhà trường phải “đổi mới nhiều trong hoạt động quản lí chuyên môn, phát triển chương trình giáo dục đến từng cấp, từng khối lớp, từng lớp, thậm chí từng nhóm đối tượng HS, từng HS” [1]. Từ đó việc luôn luôn phải cập nhật các hình thức, PPDH tích cực là rất cần thiết. vii Sự ra đời chương trình GDPT 2018 đã đáp ứng các yêu cầu cấp thiết về sự đổi mới giáo dục, được thể hiện trên cách tiếp cận toàn diện về phát triển phẩm chất và năng lực HS thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục.
Đặc điểm môn KHTN: Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn KHTN là môn học gắn liền với đời sống thực tiễn, được dạy ở trung học cơ sở giúp HS phát triển các phẩm chất năng lực đã được hình thành và phát triển ở bậc tiểu học, hoàn thiện tri thức kĩ năng, nền tảng và phương pháp để tiếp tục học lên trung học phổ thông, hoặc tham gia vào cuộc sống lao động [1]. Mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 cấp THCS môn KHTN là: “Hình thành các phẩm chất, năng lực chung gồm năng lực tự chủ, năng lực giao tiếp, hợp tác và giải quyết vấn đề,. đặc biệt là tình yêu thiên nhiên thế giới quan khoa học, sự tự tin, trung thực, khách quan, thái độ ứng xử với thế giới tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội. Đáp ứng yêu cầu phát triển của cá nhân, yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa” [1].
KHTN là môn học có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của HS, có vai trò nền tảng trong việc hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của HS cấp trung học cơ sở. Đối tượng nghiên cứu của KHTN là các sự vật, hiện tượng, quá trình, các thuộc tính cơ bản về sự tồn tại, vận động của thế giới tự nhiên. Nhiều kiến thức KHTN rất gần gũi với cuộc sống hằng ngày của HS, đây là điều kiện thuận lợi để tổ chức cho HS trải nghiệm, nâng cao năng lực nhận thức kiến thức khoa học, năng lực tìm tòi, khám phá và vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn [1]. Nói cách khác, môn KHTN không chỉ giúp HS hiểu về thế giới tự nhiên mà còn giúp phát triển năng lực, phẩm chất và kỹ năng cần thiết để trở thành công dân có trách nhiệm và đáp ứng được yêu cầu của thế giới đang phát triển ngày nay.
Môn KHTN lớp 7 bao gồm các kiến thức đặc trưng, cơ bản về cơ thể sống cụ thể là các kiến thức về quá trình trao đổi chất và năng lượng, sinh trưởng và phát triển của sinh vật, quá trình sinh sản và cảm ứng của sinh vật.