Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của thiết kế và tổ chức hoạt động vận dụng, trải nghiệm trong dạy môn toán lớp 3 theo hướng phát triển năng lực cho học sinh. Chương 2: Xây dựng quy trình, thiết kế và tổ chức hoạt động vận dụng, trải nghiệm trong dạy môn toán lớp 3 theo hướng phát triển năng lực cho học sinh. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG, TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 3 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH 1.
Khái niệm năng lực Khái niệm NL có nguồn gốc từ tiếng La tinh (Competencia). Trên thế giới và ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về NL đưa ra nhiều quan điểm khái niệm NL. Theo Denyse Tremblay: “Năng lực là khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống” Theo Vũ Dũng (2000): “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”. Tuy mỗi tác giả đưa ra một khái niệm khác nhau về NL nhưng đều có điểm chung cốt lõi: Năng lực là khả năng thực hiện các nhiệm vụ học tập gắn với thực tiễn và được hình thành, phát triển nhờ vào quá trình rèn luyện bền bỉ, tích lũy kinh nghiệm, vốn sống của mỗi cá nhân trong hoạt động.
Từ đó ta có thể hiểu rằng phát triển NL nói chung và phát triển NL của HS Tiểu học nói riêng là khả năng huy động, tổng hợp các kiến thức kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết các vấn đề trong học tập và cuộc sống một cách hiệu quả. Phát triển NL của HS được bộc lộ thông qua quá trình học tập, HS sẽ được phát triển các NL cốt lõi: NL tư duy và lập luận toán học, NL mô hình hóa toán học, NL giải quyết vấn đề, NL giao tiếp toán học, NL sử dụng công cụ, phương tiện toán học. Tùy vào từng nhận thức của đối tượng HS mà NL toán học được thể hiện ở mức độ khác nhau. 9 Trong Chương trình Giáo dục phổ thông ban hành theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 (CTGDPT 2018) [1] có nêu: “Toán học ngày càng có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản đã giúp con người giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống một cách có hệ thống và chính xác, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển”.
Nội dung của chương trình môn Toán GDPT - 2018 được xây dựng hướng đến mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực cho HS. Để thực hiện đúng mục tiêu của chương trình môn Toán thì khi giảng dạy người GV cần phải tổ chức nhiều hoạt động học tập phong phú, đa dạng. Trong đó hoạt động vận dụng, trải nghiệm được GV tổ chức giảng dạy vào cuối bài học giúp HS khắc sâu những kiến thức đã học đồng thời vận dụng nó vào thực tế cuộc sống. Nhận thấy tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động vận dụng, trải nghiệm, tác giả thiết kế và đề xuất quy trình tổ chức hoạt động vận dụng, trải nghiệm trong DH toán lớp 3 góp phần phát triển NL cho HS.
Vấn đề thiết kế tình huống DH các tình huống DH đã được nghiên cứu trong một thời gian dài bởi các nhà giáo dục trong nước. Chúng ta có thể kể tên một số tác phẩm như vậy như: Một cuộc điều tra về DH dựa trên tình huống và tình huống DH [7]; Phương pháp giảng dạy và giảng dạy trong trường học (Phan Trọng Ngọ, 2005); Hình thành cho HS kỹ năng ở tiểu học để các em có thể thiết kế và tổ chức các tình huống DH theo hướng tăng tính tò mò, khám phá cho HS tiểu học lớp 3, 4, 5 (Phạm Thị Thanh Tú, 2013). Cho đến nay, việc thiết kế tình huống DH trong Môn toán tiểu học chưa được điều tra kỹ càng. Vì vậy, nghiên cứu về vấn đề này sẽ góp phần hoàn thiện phần lý thuyết lai lịch.
Ngoài ra, nó còn cải thiện khả năng hiệu quả DH tích hợp môn Toán ở các trường tiểu học. Tất cả các GV nói rằng các vận dụng được đề xuất là phù hợp với các tình huống DH tích hợp trong môn toán ở tiểu học. Dựa trên những GV dễ dàng hơn trong việc phân loại và thiết kế thực trạng DH tích hợp môn Toán ở trường tiểu học. Cho đến nay, việc thiết kế tình huống DH trong Môn toán 10 tiểu học chưa được điều tra kỹ càng.
Vì vậy, nghiên cứu về vấn đề này sẽ góp phần hoàn thiện phần lý thuyết lai lịch. Ngoài ra, nó còn cải thiện khả năng hiệu quả DH tích hợp môn Toán ở các trường tiểu học. Trong những năm gần đây, đã có một loạt các nghiên cứu về DH tích hợp; ví dụ, tích hợp DH - phát triển NL người học (Đỗ Hương Trà, 2015); quy trình xây dựng tích hợp đề tài khoa học tự nhiên (Nguyễn Văn Biên, 2015); xây dựng chủ đề tích hợp trong DH toán ở trường phổ thông (Nguyễn Thế Sơn, 2017); một số phương hướng DH môn toán ở trường phổ thông ánh sáng hội nhập (Phạm Sỹ Nam, 2017). Như là nghiên cứu thường tập trung vào các vấn đề chung như nội hàm của DH tích hợp, vai trò của DH tích hợp DH trong đổi mới giáo dục, định hướng của DH tích hợp các môn học khác nhau,.
Như vậy, DH theo định hướng phát triển NL của HS là quá trình GV tổ chức, điều khiển, hướng dẫn HS vận dụng tri thức, kĩ năng, thái độ đã có vào thực hiện nhiệm vụ học tập, giải quyết tình huống thực tiễn một cách hiệu quả để lĩnh hội tri thức, kĩ năng, thái độ mới và phát triển NL cần thiết. Khác biệt với DH tri thức là ở chỗ hướng trọng tâm đến rèn luyện, phát triển NL cho HS. DH theo định hướng phát triển NL của HS đề cập đến cả hai hoạt động dạy của thầy và học của trò, trong đó sự chuyển đổi phương pháp của người thầy là rất quan trọng, có các đặc trưng: - Thực hiện chương trình DH định hướng phát triển NL, đó là kế hoạch DH được thiết kế theo định hướng kết quả đầu ra, trong đó việc phát triển kỹ năng, NL cho HS là trọng tâm. - Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới mối quan hệ GV- HS theo định hướng cộng tác giao tiếp.
- Vai trò của người thầy từ truyền thụ một chiều, chuyển sang tổ chức, điều khiển, hướng dẫn HS vận dụng tri thức, kĩ năng, thái độ đã có vào thực hiện nhiệm vụ học tập, giải quyết tình huống thực tiễn một cách hiệu quả để vừa lĩnh hội tri thức; vừa rèn luyện các kĩ năng, thái độ và phát triển NL. 11 - Thực hiện việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bằng việc đánh giá khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau (thay vì kiểm tra kiến thức theo lối học thuộc lòng) (Lê Khánh Tuấn, 2019). Năng lực Toán học Theo V. Krutecxki hiểu theo góc độ tâm lí: Một là, theo ý nghĩa NL học tập (tái tạo) tức là “Năng lực đối với việc học tập, đối với việc nắm chương trình toán ở phổ thông, nắm một cách nhanh và tốt kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng”.
Hai là, theo ý nghĩa NL sáng tạo (khoa học), tức là “Năng lực đối với hoạt động sáng tạo, tạo ra những kết quả mới, khách quan có giá trị lớn đối với loài người”. Trong phạm vi luận văn này, tôi muốn nhắc tới NL toán học ở khía cạnh thứ nhất. NL toán học ở HS được hiểu là những đặc điểm tâm lí cá nhân (trước hết là những đặc điểm hoạt động trí tuệ) đáp ứng những yêu cầu của hoạt động học của môn Toán, và trong những điều kiện tương đồng với nhau thì đó là nguyên nhân của sự thành công với việc nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực Toán học một cách sáng tạo với tư cách là môn học. Theo CTGDPT 2018 giáo dục Toán học góp phần hình thành và phát triển cho HS các PC chủ yếu, NL chung và NL toán học – biểu hiện tập trung của NL tính toán với các thành phần sau: tư duy và lập luận toán học, mô hình hóa toán học, giải quyết vấn đề toán học, giao tiếp toán học, sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để HS trải nghiệm, vận dụng toán học vào thực tiễn.
Dạy học phát triển năng lực 1. Khái niệm Như chúng ta đã biết HS là những cá thể độc lập, có sự khác nhau về sở thích, NL, nhu cầu, trình độ và xuất thân. DH phát triển NL thừa nhận sự thật này và đã tìm ra được những cách tiếp cận phù hợp giúp phát triển toàn diện NL và PC của mỗi người học thay vì giáo dục chủ yếu tập trung vào truyền tải kiến thức như mô hình DH truyền thống. 12 DH phát triển NL là quá trình thiết kế, tổ chức và phối hợp giữa hoạt động dạy và học, tập trung vào đầu ra của quá trình này.
Trong đó mô hình hướng tới mục tiêu phát triển tối đa PC và NL của người học thông qua cách thức tổ chức các hoạt động học tập độc lập, tích cực, sáng tạo của HS dưới sự tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ của người DH. Trong mô hình DH này người học phải chứng minh được mức độ nắm vững kiến thức và kĩ năng (NL); huy động mọi nguồn lực (kinh nghiệm, hứng thú, ý chí, v.v) trong một môn học hay tình huống nhất định, theo tốc độ của riêng mình. Đặc điểm Dựa trên mức độ làm chủ kiến thức, kĩ năng và thái độ của HS trong quá trình tham gia học tập mà GV xác định được “năng lực” mà HS đạt được sau khi tham gia hoạt động học tập. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của DH phát triển NL, ngoài ra còn có một số đặc điểm sau: - Mục tiêu: Thông qua việc hình thành kiến thức, kĩ năng DH phát triển NL tập trung hình thành NL và PC cho người học; mục tiêu DH phải được mô tả một cách chi tiết và đầy đủ.
- Nội dung bài học: Nội dung phải được chọn lọc kĩ lưỡng để đạt được mục tiêu NL đầu ra.