CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ 1. Dạy học theo chủ đề 1. Khái niệm dạy học theo chủ đề [10] Dạy học theo chủ đề (themses based leraning) là hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội dung bài học, chủ đề,… có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của môn học đó (tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số đơn vị, bài học, môn học có liên hệ với nhau) làm thành nội dung học trong một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn.2 Ưu điểm của dạy học theo chủ đề [4], [7] Dạy học theo cách tiếp cận truyền Dạy học theo chủ đề thống hiện nay 1. Tiến trình giải quyết vấn đề tuân theo 1.
Các nhiệm vụ học tập được giao, HS chiến lược giải quyết vấn đề trong sách quyết định chiến lược học tập với sự chủ khoa học vật lý: logic, chặt chẽ, khoa động hổ trợ, hợp tác của GV (HS là học… do GV (SGK) áp đặt (GV là trung trung tâm). Phù hợp với một số HS có cách thư 2. Phù hợp với nhiều đối tượng HS vì duy logic, tuần tự, chặt chẽ. mỗi HS có một phương pháp học tập phù hợp riêng.
Nếu thành công có thể góp phần đạt 3. Hướng tới các mục tiêu: chiếm lĩnh tới mức nhiều mục tiêu của môn học nội dung kiến thức khoa học, hiểu biết hiện nay: chiếm lĩnh kiến thức mới tiến trình khoa học và rèn luyện các kĩ thông qua hoạt động, bồi dưỡng các năng tiến trình khoa học như: quan sát, phương thức tư duy khoa học và các thu thập thông tin, dự liệu; xử lý (so phương pháp nhận thức khoa học (PP sánh, sắp xếp, phân loại, liên hệ… thông thực nghiệm, PP tương tự, PP mô hình, tin); suy luận, áp dụng thực tiễn. 4 Luan van suy luận khoa học…). Dạy theo từng bài riêng lẽ với một 4.
Dạy theo một chủ đề thống nhất được thời lượng cố định. tổ chức lại theo hướng tích hợp từ một phần trong chương trình học. Kiến thức thu được rời rạc, hoặc chỉ 5. Kiến thức thu được là các khái niệm có mối liên hệ tuyến tính (một chiều trong một mối liên hệ mạng lưới với theo thiết kế chương trình học).
Trình độ nhận thức sau quá trình học 6. Trình độ nhận thức có thể đạt được ở tập thường theo trình tự và thường dừng mức độ cáo: Phân tích, tổng hợp, đánh lại ở trình độ biết, hiểu và vận dụng (giải giá. Kết thức một chương học, HS không 7. Kết thúc một chủ đề HS có một tổng có một tổng thể kiến thức mới mà có thể kiến thức mới, tinh giản, chặt chẽ và kiến thức từng phần riêng biệt hoặc có khác với nội dung trong SGK.
hệ thống kiến thức liên hệ tuyến tính theo trật tự các bài học. Kiến thức còn xa rời thực tiễn mà 8. Kiến thức gần gũi với thực tiễn mà người học đang sống do sự chậm cập HS đang sống do yêu cầu cập nhật thông nhật của nội dung SGK. tin khi thực hiện chủ đề.
Kiến thức thu được sau khi học 9. Hiểu biết có được sau khi kết thúc chủ thường là hạn hẹp trong chương trình, đề thường vượt ra ngoài khuôn khổ nội nội dung học. dung cần học do quá trình tìm kiếm, xử lí thông tin ngoài nguồn tài liệu chính thức của HS. Không thể hướng tới nhiều mục tiêu 10.
Có thể hướng tới, bồi dưỡng các kĩ nhân văn quan trọng như: rèn luyện các năng làm việc với các thông tin, giao kĩ năng sống và làm việc: giao tiếp, hợp tiếp, ngôn ngữ, hợp tác. tác, quản lí, điều hành, ra quyết định… 5 Luan van 1.3 Đặc trưng của dạy học theo chủ đề a. Mục tiêu của dạy học theo chủ đề: Dạy học theo chủ đề cũng như các mô hình dạy học tích cực khác đều nhằm đáp ứng những yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học và qua đó cũng thực hiện đầy đủ các mục tiêu giáo dục môn học trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra cũng như các chiến lược dạy học hiện đại khác, dạy học theo chủ đề còn đặt mối quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển của HS có các phong cách học tập khác nhau, quan tâm đến sự chuẩn bị cho HS đương đầu một cách thành công với sự phát triển không ngừng của thực tiễn.
Do đó, dạy học chủ đề còn hướng đến các mục tiêu tích cực khác: - Phát triển hiểu biết về tiến trình khoa học và rèn luyện các kỹ năng của một tiến trình khoa học. - Phát triển tư duy bậc cao, nhằm phát triển khả năng suy luận, tổ chức kiến thức và tiếp nhận thông tin một cách chọn lọc, có phê phán. - Rèn luyện các kỹ năng sống và làm việc của con người trong thời đại ngày nay: giao tiếp, hợp tác, quản lí, tự quyết định, tự đánh giá, tự điều chỉnh, … - Chú trọng mục tiêu phát triển nhân cách đa dạng của cá nhân hơn là việc đạt tới các mục tiêu chung, cứng nhắc, bắt buộc, khuôn mẫu, áp đặt. Vai trò của GV Dạy: dạy cho mọi người biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự đào tạo.
Trong dạy học theo chủ đề, GV tổ chức và hướng dẫn quá trình dạy- tự học. Thầy không còn là nơi độc quyền cung cấp kiến thức cho người học mà thầy luôn tạo ra cơ hội cho phép người học tự do theo đuổi những tư tưởng, khái niệm, kỹ năng, dưới sự tư vấn của thầy và thầy là người luôn tin cậy và tôn trọng họ, dạy họ cách tìm ra chân lí. Thầy không nhất thiết phải dạy toàn bộ nội dung trên lớp mà cố gắng khai thác tối đa kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng sẵn có của HS, giúp họ tự mình lĩnh hội kiến thức. Ngoài ra, GV trong chiến lược dạy học này không phải là người quyết định toàn bộ chiến lược học tập của HS, vì nhiều nhiệm vụ học tập được giao cho HS mà HS phải tự quyết định cách thức thực hiện nhiệm vụ đó.
Trong dạy học theo chủ đề, HS giữ vị trí trung tâm, nhưng không vì thế mà vai trò của GV bị giảm sút, nó chỉ thay đổi ý nghĩa: GV trở thành người cộng tác, tổ chức, hướng dẫn HS, là người trọng tài sáng suốt giúp HS xác định được chân lí, phát triển nhân cách và biết mình phải làm gì và tự giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Vai trò của HS Học: tự học, tự nghiên cứu, tự đào tạo. Người học là một chủ thể tích cực, chủ động tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy, học mọi người. Trong dạy học theo chủ đề cũng như các chiến lược dạy học tích cực khác, quan niệm “lấy người học làm trung tâm” không chỉ thể hiện ở chỗ họ được quan tâm, giúp đỡ, được tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc học tập, phát triển mà còn thể hiện ở chỗ: HS được quyết định một phần (hay toàn bộ) chiến lược học tập, đồng thời HS cũng phải chịu trách nhiệm một phần với kết quả học tập của mình (trách nhiệm với sự phát triển hiểu biết, phát triển của chính mình).
Nội dung trong dạy học chủ đề Ở cấp THPT, môn Vật lý được chia thành các chủ đề lớn như: Cơ học, Nhiệt học, Điện – Từ học, Quang học,… Trong đó nội dung được sắp xếp theo một trật tự tuyến tính đảm bảo những nguyên tắc chung: tính hệ thống, tính khoa học, tính sư phạm,… bỏ qua trật tự thời gian và tính cá nhân (tác giả) của kiến thức làm cho hiệu quả học tập cao hơn. Tuy nhiên, xu hướng tích hợp ngày càng cao làm cho chương trình, nội dung học và cách học của chúng ta ngày càng nặng tính lý thuyết, hàn lâm và xa rời thực tiễn mà người học đang sống, xa rời nhu cầu của đa số người học tạo nên áp lực ngày càng nặng nề, đồng thời nó còn tạo ra tiền đề vững chắc cho sự duy trì kiểu dạy học truyền thống đang ngày tiến triển theo hướng tiêu cực như hiện nay. Tổ chức lại nội dung học vấn phổ thông theo hướng tích hợp là yêu cầu khách quan và hiện nay đã trở thành xu thế. Trong phạm vi một môn khoa học như môn Vật lý chẳng hạn, tích hợp giúp tinh giản kiến thức, giúp cho kiến thức có tính thực tiễn và tính công cụ mạnh hơn vì thế hữu dụng và vững chắc hơn.
Tích hợp là một giải pháp thích hợp đã được thực tế giáo dục ở nhiều nước khẳng định để giải quyết mâu thuẫn giữa sự bùng nổ thông tin, yêu cầu của thực tiễn với thời gian giáo dục và khả năng nhận thức có hạn của HS. Tích hợp giúp rút ngắn khoảng cách giữa học và hành, giữa lý thuyết và thực tiễn. Tích hợp là xu thế tất yếu để đổi mới nội dung và phương pháp dạy khoa học trong nhà trường phổ thông Việt Nam chúng ta phải cần quan tâm thích đáng. Phương pháp dạy học Dạy học theo chủ đề và nhiều mô hình dạy học tích cực khác đều đặt trọng tâm phát triển tư duy cho HS.
Chính vì thế dạy học phải chú trọng đến các phương pháp tạo cơ hội, tạo điều kiện cho người học tích cực, chủ động, đặc biệt là quan điểm kiến tạo trong dạy học, còn quá trình học là quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn trên cơ sở kiến thức được học (Học thuyết kiến tạo cho rằng: mọi người, không phân biệt lứa tuổi, học tốt nhất bằng cách: thu thập thông tin mới, suy nghĩ về nó, và làm việc theo nhiều cách khác nhau. Những hướng dẫn trực tiếp được giảm tối thiểu, thay vào đó là tạo cơ hội cho người học thăm dò, thí nghiệm, chia sẻ ý kiến. Tạo cơ hội và cung cấp các tài liệu khác nhau để HS xây dựng hiểu biết của mình). Trong mô hình dạy học này và nhiều mô hình dạy học tích cực khác, người ta không dành nhiều thời gian cho việc cung cấp kiến thức mà thời gian học chủ yếu dành cho việc giải quyết vấn đề, thực hiện các nhiệm vụ học tập của các nhóm HS.