Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Thiết kế và chế tạo mô hình động cơ đốt ngoài trong dạy học phần nhiệt học Vật lý 10 THPT" do sinh viên Dương Thị Trinh (chuyên ngành Sư phạm Vật lí, Khoa Lý – Hóa – Sinh, Trường Đại học Quảng Nam) thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Vân Sa vào tháng 04 năm 2017.

Vật lý là bộ môn khoa học thực nghiệm, trong đó tư tưởng chủ đạo của chương trình sách giáo khoa trung học phổ thông (THPT) là hình thành kiến thức mới thông qua thí nghiệm và thực hành nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức, rèn luyện kỹ năng quan sát và sử dụng thiết bị cho học sinh. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy chương trình Vật lý 10, trong khi các mảng kiến thức như Cơ học, Quang học hay Điện từ học đều được trang bị hệ thống thí nghiệm minh họa trực quan và bài thực hành trong phòng thí nghiệm, thì phần Nhiệt học – cụ thể là chương "Cơ sở của nhiệt động lực học" – chủ yếu được dạy bằng phương pháp lý thuyết thuần túy. Giáo viên thiếu các mô hình hoặc thí nghiệm vận hành thực tế để học sinh tìm hiểu, dù kiến thức của chương có tính ứng dụng kỹ thuật và đời sống rất cao. Việc thiếu thiết bị trực quan khiến học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc hình dung nguyên lý chuyển hóa năng lượng cũng như nguyên tắc hoạt động của các động cơ nhiệt.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài xác định mục tiêu và hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Thiết kế và chế tạo mô hình động cơ đốt ngoài (động cơ Stirling) từ các vật liệu đơn giản nhằm nâng cao chất lượng dạy học phần Nhiệt học.
    2. Soạn thảo tiến trình dạy học bài 33: "Các nguyên lý của nhiệt động lực học" trong chương "Cơ sở của nhiệt động lực học" (Vật lý 10 cơ bản) có sử dụng mô hình thí nghiệm tự tạo.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về nguyên lý hoạt động của động cơ đốt ngoài.
    2. Nghiên cứu phương pháp thiết kế, chế tạo mô hình động cơ đốt ngoài.
    3. Thiết lập tiến trình dạy học sử dụng mô hình động cơ đốt ngoài trong tiết học.
  • Giả thuyết khoa học: Nếu thiết kế, chế tạo được mô hình động cơ đốt ngoài và sử dụng một cách khoa học, hợp lý trong quá trình dạy học chương "Cơ sở của nhiệt động lực học" Vật lý 10 thì sẽ tạo được hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý ở trường THPT.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là quá trình dạy học Vật lý có sử dụng thí nghiệm trong chương "Cơ sở của nhiệt động lực học" Vật lý 10. Phạm vi nghiên cứu được triển khai khảo sát và thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Nguyễn Huệ, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam trong năm học 2016 – 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết

Đề tài dựa trên hệ thống lý luận dạy học thực nghiệm và các nguyên lý nhiệt động lực học kỹ thuật:

  • Lý luận về thí nghiệm vật lý và thí nghiệm tự tạo: Thí nghiệm vật lý được định nghĩa là sự tác động có chủ định, có hệ thống vào hiện thực khách quan để thu nhận tri thức mới. Thí nghiệm tự tạo là phương tiện do giáo viên và học sinh chế tạo từ các vật liệu đơn giản, dễ kiếm hoặc chi phí thấp. Khóa luận phân loại thí nghiệm tự tạo thành 3 nhóm (tái tạo theo mẫu sách giáo khoa, cải tiến từ thiết bị sẵn có, tạo mới theo sáng kiến) và xác lập 4 yêu cầu bắt buộc khi chế tạo: tính sư phạm (kích thước đủ lớn, kết cấu hở, không độc hại), tính thẩm mỹ (gia công cẩn thận), tính khả thi (dễ thao tác, tỷ lệ thành công cao) và tính khoa học (bố trí logic, dữ liệu chính xác).
  • Lý thuyết động cơ Stirling: Động cơ do Robert Stirling phát minh năm 1816 tại Scotland nhằm thay thế nồi hơi áp suất cao dễ nổ của động cơ hơi nước. Đây là dạng động cơ nhiệt đốt ngoài hoạt động theo chu trình kín gồm 4 giai đoạn nhiệt động lực học:
    1. Giai đoạn 1 $\rightarrow$ 2 (Hâm nóng đẳng tích): Khí nhận nhiệt lượng $Q_H$ từ nguồn nóng ở nhiệt độ $T_H$, áp suất tăng đẩy pít-tông truyền lực đi lên.
    2. Giai đoạn 2 $\rightarrow$ 3 (Giãn nở đẳng nhiệt): Pít-tông truyền lực lên vị trí cao nhất, pít-tông tự do chuyển dịch đẩy khối khí sang vùng làm mát.
    3. Giai đoạn 3 $\rightarrow$ 4 (Làm lạnh đẳng tích): Toàn bộ khối khí ở vùng nhiệt độ thấp $T_C$, khí co lại kéo pít-tông truyền lực đi xuống.
    4. Giai đoạn 4 $\rightarrow$ 1 (Nén đẳng nhiệt): Pít-tông truyền lực nén khối khí, pít-tông tự do đẩy khí quay lại vùng nóng, nhận lại nhiệt lượng đã lưu giữ ở bộ phận trữ nhiệt (thép len cacbon).

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận phối hợp 3 nhóm phương pháp:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu về lý luận dạy học, chương trình Vật lý 10, cấu tạo động cơ nhiệt và các công trình liên quan đến thí nghiệm tự chế.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học đối chứng tại trường THPT để kiểm chứng giả thuyết khoa học.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý định lượng kết quả kiểm tra đánh giá qua các tham số thống kê:
    • Điểm trung bình cộng: $\bar{X} = \frac{\sum f_i X_i}{n}$
    • Phương sai: $S^2 = \frac{\sum f_i (X_i - \bar{X})^2}{n - 1}$
    • Độ lệch chuẩn: $S = \sqrt{S^2}$

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu gồm:

  • Dữ liệu điều tra thực trạng từ phiếu khảo sát 11 giáo viên tổ Vật lý và 34 học sinh lớp 10/6 Trường THPT Nguyễn Huệ, huyện Núi Thành.
  • Dữ liệu thực nghiệm sư phạm từ kết quả bài kiểm tra 15 phút sau bài học của 69 học sinh (34 học sinh lớp thực nghiệm 10/6 và 35 học sinh lớp đối chứng 10/4).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thiết kế, chế tạo và sử dụng thí nghiệm trong dạy học Vật lý

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm, phân loại thí nghiệm biểu diễn của giáo viên (thí nghiệm mở đầu, thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng, thí nghiệm củng cố) và thí nghiệm thực tập của học sinh (trực diện, thực hành, tại nhà). Tác giả phân tích vai trò của thí nghiệm tự tạo đối với giáo viên (khắc phục thiếu thốn thiết bị, chống "dạy chay", phát huy tính chủ động) và học sinh (phát triển tư duy thực nghiệm, liên hệ lý thuyết với đời sống).

Khảo sát thực trạng tại Trường THPT Nguyễn Huệ mang lại các số liệu:

  • Đối với giáo viên (n = 11): 100% giáo viên không sử dụng thí nghiệm khi dạy chương "Cơ sở của nhiệt động lực học"; 54,55% sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp trình chiếu PowerPoint và 45,45% dùng thuyết trình kết hợp đàm thoại; 100% giáo viên chưa từng tự chế tạo thiết bị cho chương này. Nguyên nhân chính là do nhà trường không có sẵn thiết bị, việc chế tạo đòi hỏi nhiều thời gian, thiếu kinh phí và hạn chế về kỹ năng cơ khí.
  • Đối với học sinh (n = 34): 73,53% học sinh thích phương pháp dạy học có trình diễn thí nghiệm; 82,35% cảm thấy hứng thú, tò mò hơn khi có thí nghiệm; 55,88% đánh giá bài học có thí nghiệm dễ hiểu và nhớ lâu hơn; 100% học sinh chưa từng được tham gia tự làm dụng cụ thí nghiệm (85,29% do không được giáo viên định hướng hoặc tổ chức nhóm); 91,18% bày tỏ nguyện vọng muốn được tự chế tạo thiết bị để kiểm chứng kiến thức.

Chương 2: Thiết kế và sử dụng thí nghiệm tự tạo trong chương Cơ sở của nhiệt động lực học Vật lý 10 cơ bản

Tác giả phân tích cấu trúc chương gồm 3 nhóm kiến thức: các khái niệm nội năng - nhiệt lượng, hai nguyên lý nhiệt động lực học và nguyên tắc hoạt động của động cơ nhiệt/máy lạnh. Khó khăn lớn nhất của học sinh là chỉ học thuộc công thức mà không hiểu bản chất vật lý của Nguyên lý I, không giải thích được vai trò của nguồn nóng - nguồn lạnh và cơ chế biến chuyển động tịnh tiến của pít-tông thành chuyển động quay của bánh đà.

Để khắc phục, tác giả đưa ra quy trình thiết kế và chế tạo mô hình động cơ Stirling kiểu pít-tông tự do từ các vật liệu tận dụng:

  1. Chế tạo xi lanh lớn và pít-tông tự do: Cắt thân bình nhựa trong suốt thành hình trụ cao 12 cm; dùng đáy vỏ lon nước ngọt Coca-Cola cao dán cố định vào một đáy bằng keo AB để làm mặt tiếp xúc nhiệt; gắn ống co nhựa đường kính 21 mm vào lỗ đục cách miệng bình 2 cm; chế tạo pít-tông tự do bằng vỏ lon Coca-Cola thấp cao 7 cm, nhét cuộn thép len cacbon bên trong để lưu nhiệt và xỏ dây thép xuyên tâm.
  2. Chế tạo trục khuỷu và giá đỡ: Uốn dây thép đường kính 1,5 mm thành trục khuỷu lệch pha (với các kích thước đoạn uốn: 4 cm - 1,5 cm - 3 cm - 3 cm - 0,6 cm); lon nước yến cắt bỏ nắp, đục 2 lỗ đối xứng cách miệng 1,5 cm làm gối đỡ trục khuỷu, thân lon trổ cửa sổ 9 cm x 5 cm; đáy lon nước yến đục lỗ tâm để luồn dây nối pít-tông tự do với trục khuỷu; gắn lon nước yến chồng lên thân bình nhựa bằng keo AB.
  3. Chế tạo pít-tông truyền lực và bánh đà: Cắt màng bóng bay cách miệng 35 mm, bắt vít và vòng đệm chặt ở tâm màng cao su rồi bọc căng vào đầu co nhựa bằng dây chun; dùng dây kẽm nối đầu vít với trục khuỷu; đục lỗ đường kính 5 cm ở đáy vỏ lon sữa lớn làm đế đặt thân động cơ; sử dụng đĩa CD gắn miếng xốp cố định vào trục khuỷu làm bánh đà.
  4. Vận hành: Đặt ngọn nến hoặc đèn dầu đốt dưới đáy vỏ lon nhôm (nguồn nóng), đặt một số mẩu đá lạnh lên phần lõm của lon phía trên (nguồn lạnh), trợ lực quay nhẹ bánh đà để động cơ tự vận hành liên tục.

Trên cơ sở thiết bị hoàn thiện, tác giả xây dựng tiến trình giáo án chi tiết cho Bài 33 ("Các nguyên lý của nhiệt động lực học"), tổ chức thành 2 hoạt động trọng tâm: Hoạt động 1 tìm hiểu Nguyên lý I thông qua quan sát động cơ vừa nhận nhiệt vừa sinh công ($\Delta U = A + Q$); Hoạt động 2 tìm hiểu Nguyên lý II, hiệu suất động cơ nhiệt qua cấu tạo 3 bộ phận của mô hình (nguồn nóng, nguồn lạnh, bộ phận phát động) và phân biệt rõ hai khái niệm nhiệt độ ($T$) và nhiệt lượng ($Q$).

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Nội dung thực nghiệm được tiến hành tại Trường THPT Nguyễn Huệ nhằm đánh giá tính khả thi và kiểm chứng giả thuyết khoa học. Tác giả tiến hành chọn mẫu tương đương về học lực học kỳ I: lớp thực nghiệm 10/6 (34 học sinh, dạy bằng giáo án có mô hình động cơ) và lớp đối chứng 10/4 (35 học sinh, dạy bằng phương pháp thông báo lý thuyết và hình vẽ mô phỏng truyền thống).

Tiến trình thực nghiệm kết hợp quan sát định tính diễn biến giờ học và kiểm tra định lượng bằng bài kiểm tra 15 phút, sau đó xử lý dữ liệu bằng các bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất tích lũy và tính toán các chỉ số thống kê.

Kết quả và đóng góp

Kết quả định tính

  • Lớp đối chứng (10/4): Học sinh tiếp thu thụ động qua bảng và slide mô phỏng, không khí lớp học trầm, ít phát biểu, gặp lúng túng khi giải thích các hiện tượng thực tế và không đặt câu hỏi phản biện.
  • Lớp thực nghiệm (10/6): Mô hình động cơ hoạt động ổn định trong tiết học, thu hút sự chú ý ngay từ phần đặt vấn đề; học sinh hào hứng, tích cực tham gia thảo luận, trả lời tốt các câu hỏi liên hệ thực tiễn và chủ động tìm hiểu cách tự chế tạo mô hình.

Kết quả định lượng

Dữ liệu điểm số bài kiểm tra 15 phút sau bài học giữa hai nhóm được thống kê trong các bảng dưới đây:

Nhóm lớp Sĩ số ($n$) Điểm 4 Điểm 5 Điểm 6 Điểm 7 Điểm 8 Điểm 9 Điểm 10
Thực nghiệm (10/6) 34 4 2 3 4 5 7 9
Đối chứng (10/4) 35 5 6 5 8 9 2 0

Bảng phân loại học lực của học sinh hai nhóm:

Phân loại học lực (Thang điểm) Lớp Thực nghiệm (%) Lớp Đối chứng (%)
Giỏi (Điểm 9 - 10) 47,06% 5,71%
Khá (Điểm 7 - 8) 26,47% 48,57%
Trung bình (Điểm 5 - 6) 14,71% 31,43%
Yếu (Điểm 3 - 4) 11,76% 14,29%
Kém (Điểm 0 - 2) 0,00% 0,00%

Các tham số thống kê đặc trưng:

  • Điểm trung bình cộng lớp thực nghiệm đạt $\bar{X}_{TNg} = 7,54$ (cao hơn lớp đối chứng).
  • Độ lệch chuẩn của lớp thực nghiệm đạt $S_{TNg} = 2,54$.

Đóng góp của đề tài

  • Về mặt phương pháp dạy học: Cung cấp giải pháp kỹ thuật cụ thể để khắc phục tình trạng "dạy chay" chương "Cơ sở của nhiệt động lực học" Vật lý 10, chuyển đổi phương pháp truyền thụ một chiều sang trực quan thực nghiệm.
  • Về mặt kỹ thuật tự làm thiết bị: Đưa ra bản vẽ kích thước và quy trình gia công từng bước mô hình động cơ Stirling từ phế liệu gia dụng (lon nước ngọt, chai nhựa, đĩa CD, bóng bay, thép len), có chi phí thấp và độ khả thi cao đối với điều kiện cơ sở vật chất của các trường phổ thông.
  • Về mặt tài liệu dạy học: Xây dựng hoàn chỉnh giáo án thực nghiệm cho Bài 33, tích hợp quy trình biểu diễn thiết bị và hệ thống câu hỏi gợi mở bản chất vật lý của các nguyên lý nhiệt học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Quy mô thực nghiệm: Nghiên cứu mới chỉ tiến hành thử nghiệm trên một phạm vi hẹp gồm 2 lớp (1 lớp thực nghiệm và 1 lớp đối chứng) tại một trường THPT trong 1 tiết học, chưa thực hiện lặp lại ở nhiều đơn vị trường khác nhau.
  • Độ phân tán dữ liệu: Tác giả tự nhìn nhận do chưa có nhiều kinh nghiệm trong thiết kế đề kiểm tra, số lượng điểm 9 và điểm 10 ở lớp thực nghiệm chiếm tỷ lệ quá cao (47,06%), dẫn đến độ lệch chuẩn lớn ($S = 2,54$), phản ánh mức độ đồng đều về kết quả học tập trong nhóm thực nghiệm chưa thật sự ổn định.
  • Độ bền vật liệu thiết bị: Thân xi lanh làm bằng nhựa và màng cao su pít-tông truyền lực có tính chịu nhiệt hữu hạn, dễ suy giảm độ đàn hồi hoặc hư hại nếu tiếp xúc nguồn nhiệt cao trong thời gian kéo dài; tính thẩm mỹ của sản phẩm tự chế còn thô sơ.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục cải tiến mô hình, tìm kiếm các vật liệu trong suốt có khả năng chịu nhiệt và độ bền cao hơn để tăng tuổi thọ và tính thẩm mỹ cho thiết bị.
  • Mở rộng nghiên cứu thiết kế đồng bộ hệ thống dụng cụ thí nghiệm tự tạo cho toàn bộ các bài học trong phần Nhiệt học Vật lý THPT.
  • Tổ chức thực nghiệm sư phạm trên diện rộng ở nhiều trường THPT với bộ công cụ đánh giá đa dạng hơn nhằm thu được số liệu thống kê có độ tin cậy cao hơn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Giáo viên Vật lý THPT: Tham khảo trực tiếp quy trình chế tạo mô hình động cơ Stirling giá rẻ và giáo án mẫu Bài 33 để đưa vào giảng dạy thực tế, thay thế các bài giảng trình chiếu mô phỏng tĩnh.
  • Sinh viên ngành Sư phạm Vật lý: Học hỏi phương pháp luận về nghiên cứu thiết bị dạy học tự tạo, cách thiết kế giáo án tích hợp thí nghiệm và phương pháp xử lý số liệu thực nghiệm sư phạm bằng công cụ thống kê toán học.
  • Học sinh phổ thông và các câu lạc bộ STEM: Hướng dẫn kỹ thuật chi tiết giúp học sinh tự tay lắp ráp mô hình động cơ nhiệt vận hành được từ rác thải tái chế, phát triển kỹ năng kỹ thuật và tư duy sáng tạo.

Câu hỏi thường gặp

1. Động cơ Stirling trong khóa luận hoạt động theo chu trình nhiệt động lực học nào?

Động cơ hoạt động theo chu trình Stirling kín gồm 4 giai đoạn nối tiếp nhau:

  1. Hâm nóng đẳng tích ($1 \rightarrow 2$): Khí nhận nhiệt lượng $Q_H$ từ đáy lon nhôm, tăng áp suất.
  2. Giãn nở đẳng nhiệt ($2 \rightarrow 3$): Khí nở ra sinh công đẩy màng cao su pít-tông truyền lực.
  3. Làm lạnh đẳng tích ($3 \rightarrow 4$): Pít-tông tự do đẩy khí sang vùng làm mát bằng đá lạnh, khí giảm nhiệt độ và co lại.
  4. Nén đẳng nhiệt ($4 \rightarrow 1$): Khí bị nén lại, đi qua cuộn len thép cacbon để nhận lại nhiệt lượng trước khi quay lại đáy nóng.

2. Các vật liệu chính được sử dụng để chế tạo mô hình gồm những gì?

Mô hình được làm từ các vật liệu dân dụng: thân bình nhựa trong suốt ($h = 12\text{ cm}$), vỏ lon Coca-Cola (loại cao làm đáy nhận nhiệt, loại thấp $h = 7\text{ cm}$ làm pít-tông tự do), cuộn thép len cacbon (làm bộ phận trữ nhiệt), lon nước yến (làm giá đỡ trục khuỷu), lon sữa lớn (làm chân đế), màng bóng bay (làm pít-tông truyền lực), co nhựa đường kính 21 mm, dây thép $1,5\text{ mm}$ (uốn trục khuỷu), đĩa CD (làm bánh đà) và keo dán AB.

3. Thực trạng sử dụng thí nghiệm phần Nhiệt học tại THPT Nguyễn Huệ trước khi nghiên cứu ra sao?

Khảo sát 11 giáo viên tổ Vật lý cho thấy 100% không dùng thí nghiệm và 100% chưa từng chế tạo thiết bị cho chương "Cơ sở của nhiệt động lực học" (dạy chủ yếu bằng thuyết trình và PowerPoint). Về phía học sinh ($n = 34$), 100% chưa từng tham gia tự làm thí nghiệm (trong đó 85,29% do không được hướng dẫn), nhưng 91,18% mong muốn được tự làm thí nghiệm để kiểm chứng bài học.

4. Kết quả thực nghiệm sư phạm giữa lớp 10/6 và lớp 10/4 có sự chênh lệch số liệu như thế nào?

Lớp thực nghiệm 10/6 ($n = 34$) đạt điểm trung bình $\bar{X} = 7,54$, tỷ lệ học sinh đạt loại Giỏi (điểm 9 - 10) là 47,06% (16 học sinh), không có điểm dưới 4. Trong khi đó, lớp đối chứng 10/4 ($n = 35$) chỉ đạt 5,71% học sinh loại Giỏi (2 học sinh), không có điểm 10, tập trung chủ yếu ở mức Khá (48,57%) và Trung bình (31,43%).

5. Tác giả tự nhìn nhận những hạn chế gì về mặt số liệu sau thực nghiệm?

Tác giả nêu rõ do chưa có nhiều kinh nghiệm trong khâu ra đề kiểm tra và mới chỉ thực nghiệm trên một lớp duy nhất, số lượng học sinh đạt điểm 9 và 10 của lớp thực nghiệm quá nhiều, dẫn đến độ lệch chuẩn cao ($S = 2,54$). Điều này phản ánh kết quả phân tán lớn và cần được thực nghiệm lại nhiều lần trên quy mô rộng hơn để chuẩn hóa dữ liệu.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Dương Thị Trinh đã giải quyết thành công bài toán trực quan hóa kiến thức phần Nhiệt học Vật lý 10 thông qua việc thiết kế và chế tạo thành công mô hình động cơ Stirling từ vật liệu tái chế chi phí thấp. Đề tài đã xây dựng một tiến trình dạy học bài "Các nguyên lý của nhiệt động lực học" mang tính sư phạm rõ nét, kết hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và trình diễn trực quan. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Nguyễn Huệ khẳng định tính khả thi của mô hình, góp phần tạo hứng thú học tập và nâng cao kết quả lĩnh hội tri thức của học sinh.