CHƯƠNG 1 Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lí luận cũng như thực tiễn của vấn đề thiết kế chế tạo thí nghiệm tự tạo trong dạy học, đề tài bước đầu đã làm rõ một số nội dung sau đây: - Khái niệm thí nghiệm vật lí, thí nghiệm tự tạo. - Nêu được ưu điểm và hạn chế, yêu cầu và vai trò của thí nghiệm tự tạo trong dạy học môn vật lí. - Trình bày được thực trạng của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” ở trường trung học phổ thông Nguyễn Huệ huyện Núi Thành. Qua việc điều tra thực trạng sử dụng thí nghiệm trong dạy học chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” cho thấy rõ hơn về vai trò của thí nghiệm trong dạy học vật lí, cụ thể là vai trò thí nghiệm trong chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” và sự cần thiết một thí nghiệm như mô hình động cơ đốt ngoài để phục vụ dạy học trong chương này.
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TỰ TẠO TRONG CHƯƠNG CƠ SỞ CỦA NHIỆT ĐỘNG LỰC HỌC VẬT LÝ 10 CƠ BẢN 2. Đặc điểm cấu trúc chương cơ sở của nhiệt động lực học 2. Đặc điểm về kiến thức của chương Nội dung của chương này gồm 3 nhóm kiến thức: Các khái niệm: nôi năng, nhiệt lượng, quá trình thuận nghịch, quá trình không thuận nghịch Các nguyên lí của nhiệt động lực học Nguyên lí I nhiệt động lực Nguyên lí II nhiệt động học lực học Nguyên tắc hoạt động của động cơ nhiệt và máy lạnh Nội dung chính kiến thức của chương này là các nguyên lí của nhiệt động lực học gồm nguyên lí I và II. Đây là hai nguyên lí cơ bản để giải thích nguyên tắc hoạt động của động cơ nhiệt và máy lạnh.
Mục tiêu về kiến thức của chương - Nêu được nội năng gồm động năng của hạt(nguyên tử, phân tử) và thế năng tương tác giữa chúng. - Nêu được nội năng của một vật phụ thuộc vào nhiệt độ và thể tích của vật đó. - Nêu được ví dụ về hai cách làm thay đổi nội năng. 10 - Phát biểu được nguyên lí I Nhiệt động lực học.
Viết được hệ thức của nguyên lí I Nhiệt động lực học. Nêu được tên, đơn vị và quy ước về dấu của các đại lượng trong hệ thức này. - Phát biểu được nguyên lí II Nhiệt động lực học. Mục tiêu về kỹ năng của chương - Vận dụng được mối quan hệ giữa nội năng với nhiệt độ và thể tích để giải thích một số hiện tượng liên quan.
- Giải thích được nguyên lí hoạt động của động cơ nhiệt và máy lạnh. - Giải được các bài tập về động cơ nhiệt và những bài tập vận dụng nguyên lí I nhiệt động lực học. Một số khó khăn của học sinh khi học chương cơ sở của nhiệt động lực học - Học sinh chỉ nắm được công thức mà không hiểu ý nghĩa vật lí của nguyên lí I. - Học sinh gặp khó khăn trong việc giải thích nguyên lí hoạt động của động cơ nhiệt và máy làm lạnh.
- Học sinh không hiểu về vai trò của nguồn nóng và nguồn lạnh trong động cơ nhiệt cũng như cách động cơ biến chuyển động tịnh tiến của pít-tông thành chuyển động quay của bánh đà. Một số nguyên nhân gây nên khó khăn của học sinh và biện pháp khắc phục - Giáo viên khi dạy về nguyên lí I của nhiệt động lực học, đa số giáo viên chỉ thông báo cho học sinh biết về kiến thức này, mà không thể cho học sinh một ví dụ minh họa cụ thể. - Hiện nay thí nghiệm về động cơ nhiệt để phục vụ cho chương này không có, chỉ có những mô hình cho học sinh quan sát, hay những thí nghiệm mô phỏng trình chiếu trên máy, nên các em thấy khó có thể hình dung một động cơ nhiệt thật sự hoạt động như thế nào. - Vậy biện pháp thiết thực để giải quyết một số nguyên nhân trên là cần một mô hình động cơ nhiệt hoạt động để trình diễn trong các tiết dạy.
Thiết kế và chế tạo thí nghiệm động cơ đốt ngoài 2.Giới thiệu động cơ stirling Động cơ stirling được phát minh vào năm 1816 do ông Robert Stirling – một mục sư người Scotland sáng tạo ra. Phát minh này nhằm tạo ra một sự lựa chọn an toàn hơn động cơ hơi nước đang phổ biến lúc bấy giờ. Nồi hơi của động cơ hơi nước thường xảy ra hiện tượng nổ do áp suất cao của hơi nước.1 Robert Stirling – Người phát minh ra động cơ stirling Thực ra, những ý tưởng phát minh ra một loại động cơ mới thay thế cho động cơ hơi nước đã xuất hiện từ đầu những năm 1699 khi những điều luật đầu tiên về khí thải ra đời. Năm 1807 nhà phát minh người Anh George Cayley đã phát minh ra động cơ khí nóng.
Nhưng mô hình động cơ stirling của Robert Stirling đưa ra năm 1816 là được chú ý hơn cả và được xem là đáng giá nhất. Động cơ stirling cũng là một loại động cơ nhiệt thuộc nhóm động cơ đốt ngoài như động cơ hơi nước nhưng nguyên lý sinh công của nó lại khác hẳn. Động cơ stirling sử dụng một nguồn nóng để nung nóng môi chất công tác (thường là không khí, hydrogen hay helium) bên trong xilanh làm cho nó giãn nở và sinh công, sau đó lại dùng một nguồn lạnh để giải nhiệt cho môi chất công tác trước khi đẩy nó trở lại về phía đầu nóng.2 Mô hình động cơ của Robert Stirling sáng chế năm 1816 Môi chất công tác bên trong xilanh của động cơ stirling là một khối khí bị cô lập và không bị đốt cháy, do đó không tiêu thụ nhiên liệu và xả khí thải ra môi trường. Nếu nguồn nhiệt bên ngoài dùng để cung cấp nhiên lượng cho động cơ stirling là sạch (như năng lượng mặt trời, nhiệt lượng từ đốt rác thải…) thì đây là loại động cơ thân thiện với môi trường hơn rất nhiều so với các loại động cơ tiêu thụ nhiên liệu, xả khí thải ra môi trường.
Và đặc biệt, động cơ striling có thể dùng trong dạy học để minh họa một cách trực quan các kiến thức của chương “ Cơ sở của nhiệt động lực học ”. Cấu tạo của động cơ striling kiểu piston tự do Thiết kế của động cơ stirling thường có một khối khí bao bọc trong buồng kín hay trong một xilanh, trong đó các chất khí có thể là không khí, hydro hay heli. Buồng chứa chất khí có hai phần, một phần tiếp xúc với nguồn nhiệt có nhiệt độ cao, phần kia tiếp xúc với nơi có nhiệt độ thấp. Động cơ stirling loại này có một pit-tông nhỏ gọi là pit-tông truyền lực gắn liền với một xi-lanh nhỏ hoặc một lớp màng cao su (tùy trường hợp động cơ hoạt động ở nhiệt độ cao hay thấp ), một pit-tông thứ hai nằm bên trong, không khít chặt với một xi-lanh lớn khác, gọi là pit-tông tự do.
Vai trò của pit-tông này là di chuyển khối khí bên trong xi-lanh lên xuống giữa hai vùng có nhiệt độ khác nhau trên động cơ, một vùng được nguồn nhiệt nung nóng và một vùng được làm mát. Hai pit-tông được liên kết với nhau sao cho chuyển động của chúng lệch pha nhau 900 để khi pit-tông truyền lực đang di chuyển chậm lên vị trí cao nhất hay 13 thấp nhất thì pit-tông tự do ở điểm giữa của quỹ đạo chuyển động với vận tốc lớn nhất. Một bộ phận quan trọng trong động cơ stirling là phần giữ nhiệt, nằm trên đường di chuyển của khối khí từ phần nóng sang phần lạnh, thường làm bằng khối dây kim loại. Nó có tác dụng hấp thụ nhiệt của khối khí từ phần nóng đi qua, lưu giữ nhiệt năng này và hâm nóng khối khí đi từ phần lạnh tới.
Trong thiết kế này, piston tự do vừa đóng vai trò đẩy khí qua lại giữa phần nóng và phần lạnh, vừa có vai trò giữ nhiệt. Nguyên lí hoạt động của động cơ stirling Động cơ stirling hoạt động theo chu trình stirling gồm bốn giai đoạn: hâm nóng, giãn nở, làm lạnh và nén. Chu trình stirling lý tưởng là một chu trình nhiệt động lực học thuận nghịch, do đó có cùng hiệu suất với chu trình carnot (khi hoạt động giữa các nguồn nhiệt giống nhau). Trong thực tế, hiệu suất chu trình stirling thực tế thấp hơn hiệu suất chu trình lý tưởng vì do ma sát và thất thoát nhiệt (do truyền trực tiếp từ phần nóng sáng phần lạnh), nhưng hiệu suất chu trình stirling thực tế cao hơn động cơ đốt ngoài khác như động cơ hơi nước và cao hơn hầu hết các động cơ đốt trong hiện đại (động cơ diesel hay động cơ xăng).
Trong dạy học ở các trường phổ thông có thể sử dụng kiểu pit-tông tự do như hình 2.3 Các giai đoạn hoạt động của chu trình stirling loại pit-tông tự do Ở vị trí 1, pit-tông tự do đang ở vị trí trên cùng, lúc này lượng khí sẽ chiếm chỗ vùng nóng đang ở nhiệt độ TH. Khí nhận nhiệt lượng QH, dãn nở và 14 đẩy pit-tông truyền lực di chuyển lên phía trên, đồng thời piston tự do bắt đầu di chuyển xuống dưới, giai đoạn 1→2 gọi là hâm nóng đẳng tích. Ở vị trí 2, pit-tông truyền lực ở vị trí cao nhất của quỹ đạo chuyển động. Giai đoạn pit-tông truyền lực di chuyển chậm lên vị trí cao nhất được xem như quá trình đẳng tích.
Pit-tông tự do lúc này di chuyển đến vùng nóng, đẩy khí di chuyển lên vùng lạnh, đồng thời piston truyền lực bắt đầu di chuyển xuống dưới. Giai đoạn 2→3 gọi là giãn nở đẳng nhiệt. Ở vị trí 3, Piston tự do đang ở vị trí thấp nhất, lúc này toàn bộ lượng khí đang ở vùng lạnh, khí sẽ co lại và kéo piston truyền lực đi xuống đồng thời piston tự do bắt di chuyển đi lên. Giai đoạn 3→4 gọi là làm lạnh đẳng tích.
Ở vị trí 4, pit-tông truyền lực di chuyển chậm và bị nén hoàn toàn ở vi trí thấp nhất của quỹ đạo. Pit-tông tự do di chuyển lên trên và đẩy khối khí xuống vùng nóng. Khi khối khí lạnh đi ngang qua pit-tông tự do, nó sẽ nhận lại nhiệt lượng QH đã trữ trước đó, đồng thời piston truyền lực bắt đầu di chuyển lên trên. Giai đoạn 4→1 gọi là nén đẳng nhiệt.
Động cơ stirling khi hoàn tất chu trình sẽ trở về vị trí 1 và cứ thế lặp đi lặp lại. Thiết kế và chế tạo chế tạo động cơ stirling a. Vật liệu chế tạo động cơ stirling từ bình nhựa như hình 2.4 Vật liệu chế tạo động cơ stirling b.