PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Xuất phát từ vai trò của tự học Trong những năm gần đây vấn đề giáo dục đƣợc Đảng, Nhà nƣớc hết sức quan tâm và đƣợc khẳng định trong nghị quyết Trung ƣơng IV khoá VII: "Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Ngày nay giáo dục đƣợc coi là nền móng cho sự phát triển khoa học kỹ thuật và đem lại sự thịnh vƣợng cho nền kinh tế quốc dân.
Vai trò của giáo dục là hết sức to lớn nhƣng để làm đƣợc điều đó trƣớc hết phải đổi mới giáo dục, đổi mới từ tƣ duy giáo dục và cần phải có chiến lƣợc giáo dục đúng đắn. Về vấn đề này trong “Nghị Quyết Đại hội đại biểu của Đảng khoá IX đã khẳng định “Đổi mới hình thức giảng dạy, học tập các chƣơng trình giáo dục phải đổi mới để cập nhật với tri thức hiện đại, thích hợp với lứa tuổi và các điều kiện giảng dạy học tập cụ thể. Đổi mới phƣớng pháp giảng dạy theo hƣớng không chỉ để nhồi nhét kiến thức mà quan trọng hơn là chú ý việc phát triển tƣ duy độc lập, năng động của HS”. Điều đó có thể nói bắt đầu từ hai nhân tố chính của giáo dục là ngƣời dạy (vai trò chủ đạo) và HS (vai trò chủ động), trong đó việc chủ động học tập của HS là hết sức quan trọng, nó quyết định không nhỏ ở chất lƣợng giáo dục.
Có nghĩa là HS phải có phƣơng pháp học tập đúng đắn, tích cực và phải có ý thức trau dồi tự học cho chính mình. Bên cạnh đó ngƣời dạy phải có những định hƣớng HĐ học tập cho HS, phát triển tƣ duy tích cực, hình thành cho HS năng lực hợp tác, tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức cho bản thân góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục hiện đại. Có thể nói trong việc học tập, vấn đề tự học là cái cốt lõi, cái chủ yếu nhất của HS nhƣ Gibbon đã nêu, “Mỗi ngƣời điều phải nhận hai thứ giáo dục, một thứ do ngƣời khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn là do chính mình tạo lấy”. Việc tự học nó có một ý nghĩa hết sức to lớn, nó giúp HS có thể học tập suốt đời, học ở những môi trƣờng và điều kiện khác nhau, học tốt ở những Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ lĩnh vực kiến thức khác nhau, có thể tự chiếm lĩnh kiến thức, biến cái của nhân loại thành cái của riêng bản thân mình.
Và đó cũng là con đƣờng dẫn đến thành công của HS. Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn [14] “Tự học là tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. Từ các cách hiểu trên ta thấy việc học có cốt lõi là tự học, tự học là công việc chính của HS vì không thể ai học thế cho mình đƣợc. Tự học là để tự mình khẳng định mình, vƣợt qua hoàn cảnh, hoà nhập với cuộc sống và sống tốt.
Trong vấn đề giáo dục nói chung và việc học nói riêng thì tự học có một vai trò hết sức quan trọng nó quyết định sự phát triển các phẩm chất nhân cách của H S.Tự học giúp HS hiểu sâu, mở rộng, củng cố và ghi nhớ bài học một cách vững chắc. Tự học giúp HS có khả năng vận dụng các tri thức đã học vào việc giải quyết những nhiệm vụ học tập mới. Tự học giúp HS hình thành đƣợc tính tích cực, độc lập tự giác trong học tập. Tự học giúp HS hình thành đƣợc nề nếp làm việc khoa học.
Tự học giúp HS hình thành và phát triển khả năng phân tích, tổng hợp tài liệu – một phẩm chất quan trọng của tƣ duy. Thực tế luôn khẳng định rằng xã hội, đất nƣớc muốn phát triển cần phải có ngƣời tài, vì “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nƣớc mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nƣớc yếu, rồi xuống thấp”, việc tự học để HS có một bản lĩnh, trình độ đích thực là hết sức quan trọng, tránh lối học mang tính đối phó, hình thức rồi để trở thành những con ngƣời hữu danh vô thực. Trong tiến trình phát triển chung của nhân loại, tri thức có vai trò thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia đều dựa trên nền tảng tri thức và muốn có tri thức thì phải phát triển giáo dục.
Nhƣ lời Bác Hồ đã nói “Non sông Việt Nam có vẻ vang, có sánh vai cùng các cƣờng quốc năm châu hay không? Chính là nhờ phần lớn công học tập ở các cháu”, dù Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ cho giáo dục không phải là phƣơng thuốc thần kì có thể thực hiện đƣợc mọi mơ ƣớc song dù sao nó cũng là một con đƣờng hơn mọi con đƣờng khác huớng vào phục vụ phát triển toàn diện con ngƣời. Ý thức đƣợc tầm quan trọng đó của tri thức giáo dục, nƣớc ta coi giáo dục và dạy học là quốc sách, Đảng và nhà nƣớc ta đang nỗ lực xây dựng một xã hội học tập với phƣơng hƣớng, con đƣờng thực hiện là kết hợp đến trƣờng, giáo dục từ xa và tự học. Trong đó tự học để trƣởng thành là vô cùng quan trọng. Một trong những đặc trƣng cơ bản, quan trọng nhất trong xã hội tự học là tƣ tƣởng tự học tập suốt đời.
Vì “việc học không bao giờ là muộn” (Ngạn ngữ), hay “Bác học không có nghĩa là ngừng học” (Đác-Uyn). Quan niệm tự học suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay nhƣ một chìa khoá mở cửa đi vào thế kỉ 21 - thế giới của nền kinh tế tri thức. Nó đáp ứng những thách thức của một thế giới đang thay đổi nhanh chóng trên mọi lãnh vực. Trong xã hội tự học suốt đời ngƣời ta học vì: học để biết, học để làm ngƣời, học để làm việc, học để chung sống - bốn động cơ này luôn thôi thúc con ngƣời ta phải luôn học tập để đạt đến Chân - Thiện - Mỹ.
Thực chất tự học là một quá trình học tập, một quá trình nhận thức không trực tiếp có GV. Đó là "lao động khoa học", vất vả hơn nhiều so với quá trình học có thầy bởi vì HS phải tự xây dựng cho mình, cách học và sử dụng hợp lý các điều kiện, hình thức, phƣơng tiện học tập để đạt đƣợc kết quả mong muốn 1. Xuất phát từ thực trạng tự học của HS lớp 12 khu vực miền núi phía Bắc Thực tế trong những năm gần đây, giáo dục của các trƣờng phổ thông có nhiều bƣớc tiến rõ rệt. Song ở một số cơ sở địa phƣơng chất lƣợng còn khá thấp, việc tự học của HS chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, gây ảnh hƣởng không tốt đến chất lƣợng cũng nhƣ tiến trình học tập của HS ở những bƣớc xa hơn.
HS khu vực miền núi, vùng cao đa phần là con em dân tộc ít ngƣời, dân trí thấp, cha mẹ không có điều kiện chăm lo cho con cái học hành. Ngoài giờ đến lớp HS còn phải giúp đỡ bố mẹ các công việc gia đình và đồng áng, nƣơng rẫy, không có nhiều thời gian để học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Mặt khác điều kiện học tập rất khó khăn, tài liệu học tập còn thiếu hoặc chƣa phù hợp với năng lực của HS dẫn đến việc khi lên lớp 12 HS bị rỗng kiến thức, nên hầu hết HS rất sợ học môn Toán. Khả năng tự học của HS là rất yếu, là GV dạy toán, đã có 7 năm gắn bó với nghề, 6 năm dạy lớp 12 tôi rất thông cảm với HS và trăn trở trƣớc thực tế đó.
Bởi vậy trong quá trình giảng dạy tôi luôn học hỏi đồng nghiệp và tìm tòi những phƣơng pháp, cách thức thích hợp để giúp HS tự học, tự ôn tập bổ sung những kiến thức còn rỗng. Từ thực trạng trên, các GV cần xem lại công tác tổ chức hƣớng dẫn HĐ tự học cho HS nhằm tìm ra giải pháp về vấn đề tự học cho HS vùng sâu và góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục ở địa phƣơng. Qua nghiên cứu tài liệu của tôi, tôi thấy cũng đã có rất nhiều tài liệu biên soạn giúp HS tự học, nhƣng chƣa có tài liệu nào biên soạn phù hợp với đối tƣợng HS miền núi.3 Xuất phát từ tác động tích cực của CNTT đến dạy học Hiện nay với sự phát triển nhƣ vũ bão của CNTT (CNTT) đã mở ra một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của công nghệ. CNTT đƣợc ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực của xã hội, kinh tế, văn hóa, tiêu biểu nhƣ trao đổi thƣ tín, thƣ viện điện tử, chính phủ điện tử, giáo dục điện tử.
Xuất phát từ những ƣu điểm về mặt kĩ thuật và tiềm năng về mặt sƣ phạm của CNTT, dạy học Toán với sự hỗ trợ của CNTT sẽ góp phần tạo nên môi trƣờng học tập mang tính tƣơng tác cao, giúp HS tự học hiệu quả hơn. Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi lựa chọn hƣớng nghiên cứu Thiết kế học liệu điện tử hỗ trợ HS lớp 12 tự học nội dung chương “Phương pháp tọa độ trong không gian”. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về tự học và thực tiễn sử dụng tài liệu tự học trong dạy học toán ở trƣờng trung học phổ thông (THPT), thiết kế học liệu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ điện tử với nội dung chƣơng “Phƣơng pháp tọa độ trong không gian” góp phần nâng cao chất lƣợng tự học cho HS lớp 12. Khách thể và Đối tƣợng nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học toán lớp 12 THPT.
- Đối tƣợng nghiên cứu: Thiết kế HLĐT hỗ trợ HS lớp 12 THPT tự học nội dung chƣơng “phƣơng pháp tọa độ trong không gian”. Giả thuyết khoa học Nếu thiết kế đƣợc học liệu điện tử nội dung chƣơng “phƣơng pháp tọa độ trong không gian” lớp 12 và có các biện pháp phù hợp để khai thác các học liệu này thì sẽ góp phần nâng cao chất lƣợng tự học cho HS lớp 12 THPT. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu lý luận về tự học. - Nghiên cứu nội dung phƣơng pháp tọa độ trong không gian trong chƣơng trình Toán lớp 12.
- Nghiên cứu về thực trạng tự học ở HS lớp 12 ở một số địa bàn thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc. - Nghiên cứu về học liệu điện tử và việc sử dụng học liệu điện tử trên thế giới và ở Việt Nam.